
Tướng Trưởng bay ra Huế cùng ngày nhận được lệnh. Khi
đến Huế thì tình hình Vùng I đã bi quan rồi. Chúng ta có thể thay chữ
bi quan bằng chữ bi đát ở đây. Ngày hôm sau, ông ra lệnh lập bộ tư lệnh
tiền phương của Quân Đoàn ở hướng bắc thành phố Huế. Đồng thời ông ra
lệnh tất cả các quân nhân đang đi lạc khỏi đơn vị, hay không còn đơn vị
đê trở về, phải tìm cách trình diện thẩm quyền quân sự lập tức. Mọi sự
bất tuân thượng lệnh sẽ bị trừng phạt ngay tại chỗ. Sau khi phân chia
vùng trách nhiệm tác chiến cho các đơn vị đã được ổn định, tướng Trưởng
tái huấn luyện, tái trang bị lại cho các đơn vị bị tan rã một tháng
trước đó. Trong khi chờ đợi các đơn vị hoàn phục sức tác chiến, ông xử
dụng hỏa lực của hải
quân và không quân Hoa Kỳ để phá hủy các điểm tập trung quân của cộng
sản. Trong tháng 5, sau khi được Bộ Tổng Tham Mưu tăng viện cho hai lữ
đoàn Dù, tướng Trưởng bắt đầu chuyển từ thế phòng thủ qua thế tấn công
giới hạn. Tấn công giới hạn ở đây có nghĩa là ông dùng trực thăng vận để
bất thần đột kích sau lưng những đơn vị cộng sản.
Với không vận cung cấp từ TQLC Hoa Kỳ, tướng Trưởng cho những tiểu đoàn
của TQLC và Sư Đoàn 1 đột kích sau lưng địch. Hai tiểu đoàn của lữ đoàn
369 nhảy vào Hải Lăng; Lữ đoàn 147 vừa đổ bộ bằng tàu lên Mỹ Thủy, vừa
đổ bộ bằng trực thăng vào Cổ Lũy. Sau những lần đột kích như vậy, TQLC
hoàn tất nhiệm vụ và trở lại tuyến bạn một cách an toàn. Cùng lúc, Sư
Đoàn 1 bất thần nhảy vào chiếm lại căn cứ hỏa lực Bastogne, rồi từ đó
chiếm lại luôn căn cứ Checkmate. Đây là hai cao điểm quan trọng bảo vệ
hướng tây nam của Huế. Cuối tháng 5, Sài Gòn cho tướng Trưởng thêm lữ
đoàn 1 Dù. Như vậy Vùng I bây giờ có được hai sư đoàn tổng trừ bị đủ và
ba sư đoàn bộ binh thiếu. Tình hình cuối tháng 5 ở Vùng I sáng sủa hơn
hai tháng trước. Ngày 28 tháng 5, trước
cửa Ngọ Môn Huế, tướng Trưởng chứng kiến người bạn cùng khoá, đại tá
TQLC Bùi Thế Lân, được tổng thống Thiệu gắn cho ngôi sao chuẩn tướng
trên vai. Để đáp lại sự khen thưởng đó, tướng Lân thề sẽ lấy lại Quảng
Trị.
Cuối tháng 6, khi thấy mình có đủ quân và khả năng để lấy lại Quảng trị,
ông soạn thảo một kế hoạch và trình về Sài Gòn; cùng lúc ông cho MACV
một bản sao của kế hoạch hành quân. Vài ngày sau, trước khi Sài Gòn trả
lời, MACV đã trả lời nói với ông là chưa đến lúc. MACV đề nghị ông tiếp
tục đột kích và chờ một thời gian nữa. Thất vọng vì kế hoạch không được
chấp nhận, Tướng Trưởng bay về Sài Gòn đích thân tường trình kế hoạch
cho tổng thống Thiệu. Theo những gì tướng Trưởng viết lại trong tác phẩm
The Easter Offensive of 1972, sau khi nghe kế hoạch của ông, tổng thống
Thiệu – cũng có thái độ như MACV – ra lệnh cho ông chờ thêm một thời
gian nữa. Trong lúc này chỉ nên tấn công phá rối và đột kích như đang
làm. Bực tức trong sự yên lặng, tướng Trưởng
gom bản đồ lại và bay trở về bộ tư lệnh. Sau một đêm mất ngủ, sáng sớm
hôm sau ông gọi điện thoại cho trung tướng Đặng Văn Quang, cố vấn an
ninh quốc gia cho tổng thống Thiệu, ông nói: “tôi sẽ không đệ trình thêm
một kế hoạch nào nữa. Nếu họ muốn tôi thi hành ra sao thì nên đưa cho
tôi một bản kế hoạch bằng tiếng Việt và tôi sẽ thi hành”. Những chữ
nghiêng trong câu trích dẫn là do người viết đánh dấu. Người viết muốn
nhấn mạnh những chữ đó, vì đây là một câu nói bí mật, khó hiểu. Phải
chăng người Mỹ đã làm áp lực với tổng thống Thiệu và không cho tướng
Trưởng đánh trong thời gian đó, hay đánh theo ý của QLVNCH?
Qua những tài liệu của MACV được giải mật sau này, trong khoảng thời
gian từ 1 đến 24 tháng 6, tình hình Vùng I và tên của tướng Trưởng được
nhắc đến nhiều lần. Những tài liệu mật cho thấy MACV không nói gì đến kế
hoạch phản công chiếm lại Quảng Trị, nhưng có vài đoạn chúng ta đọc
thấy MACV và chính tướng Abrams lo ngại Quân Đoàn I không đủ quân để
thực hiện một kế hoạch đầy tham vọng như vậy. Trong tập hồ sơ giải mật
do sử gia Sorley soạn thảo – và tướng Trưởng cũng ghi những chi tiết
tương tự trong tác phẩm của ông – đến giữa tháng 6-1972, Quân Đoàn I chỉ
có hai sư đoàn TQLC và Nhảy Dù là đủ cấp số và khả năng tác chiến. Các
đơn vị cơ hữu còn lại của Quân Đoàn – ba sư đoàn bộ binh 1, 2, 3; Lữ
đoàn 1 Thiết Kỵ.

Tháng 8, 1969: Trong một
buổi thuyết trình dành riêng cho đại sứ Hoa Kỳ ở Lào, G. Mcmurtrie
Godley, đại tướng tư lệnh MACV, Creighton Abrams, nói về tình hình quân
sự và tình hình của các đơn vị chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
(QLVNCH). Về Vùng I, tướng Abrams nói : “Chúng ta có Sư Đoàn 1 ở đây. Sư
đoàn này có 17 tiểu đoàn tác chiến đây là sư đoàn loại hạng nhất; sư
đoàn có những quân nhân thượng thặng trên cả nước. Đơn vị có cấp chỉ huy
giỏi, từ tiểu đoàn trưởng cho đến tư lệnh sư đoàn. Người tư lệnh sư
đoàn… tôi không nghĩ QĐVNCH có một người tư lệnh như ông ta tài giỏi về
chiến thuật một người dẫn đầu làm gương”.
Hơn một năm sau, tháng 10 năm 1970, trong
buổi thuyết trình dành riêng cho giám đốc CIA, Richard Helms, đại tướng
tư lệnh phó MACV. Fredenck Weyand, nói, “Trưởng … tôi không cần phải nói
nhiều về ông ta vì khả năng của ông đã đựơc biết. Từng là tư lệnh Sư
Đoàn 1, nếu nói về cấp sô quân ông ta đã chỉ huy hơn 2 sư đoàn…. Lâu nay
ông đã chứng tỏ được khả năng chỉ huy; không ai lung lay ông được. Từ
lúc xuống coi Vùng IV, với cá tính năng động, ông đã đề ra những kế
hoạch ưu tiên phải thực hiện.. ông đã đem lại nhiều phấn khởi cho Vann
(John Paul Vann chỉ huy trửơng Xây Dựng và Phát Triển Nôn.Thôn Vùng IV )
và McCrown ( thiếu tướng Hal D. McCrown, cố vấn trương Vùng IV ) ngoài
sức tưởng tượng.”
Người chỉ huy trưởng Sư Đoàn 1 và vị tư
lệnh Quân Đoàn IV được nhắc đến, là trung tứơng Ngô Quang Trưởng, cựu tư
lệnh Quân Đoàn IV, và sau đó, Quân Đoàn I. Trung tướng Trưởng đã từ
trần ngày 22 tháng 1, 2007, tại Fairfax, Virginia. hưởng thọ 77 tuổi.
Lời bình phẩm của hai vị đại tướng Abrams
và Weyand, là hai trong nhiều lời bình phẩm và khen ngợi về khả năng chỉ
huy của tướng Trưởng, đến từ nhiều sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ trong thời
gian họ phục vụ ở Việt Nam. Một trong những lời ca tụng cao quý nhất
dành cho tướng Trưởng đến từ Tham Mưu Trởng Liên Quân Earl G.Wheeler.
Tháng 7, 1969, trong cao điểm của chương trình Việt Nam Hóa, tướng
Wheeler đến Việt Nam thăm viếng và hội thảo với đại tướng Cao Văn Viên.
Khi nói về chương trình gia tăng quân số cho QLVNCH, tướng Wheeler nói ý
nghĩ của ông với tướng Viên: cách gia tăng nhanh chóng sự hữu hiệu của
QLVNCH là không phải tạo ta thêm nhiều đơn vị mới, mà là tạo thêm ra
nhiều anh hùng trong đơn vị. Giống như ở Sư Đoàn 1, một sư đoàn đang
hoạt động rất hữu hiệu. Cái quý trọng đáng nói về những lời khen ngợi
này, là tất cả cuộc đối thoại nói về tướng Trưởng đều xảy trong vòng bí
mật giữa các tưởng lãnh cao cấp Hoa Kỳ; họ nói về tướng Trởng trong
vòng kín đáo riêng tư chứ không phải những lời khen thưởng, khích lệ
tinh thần ngoài công cộng. Đó là vinh dự cho một vị tướng mà theo lời
của đại tướng Norman Schwarzkopf – người đã gọi tướng Trưởng là bậc thầy
– “không cao lớn, không đẹp trai, không có vẽ gì là một thiên tài tài
quân sự. “
Ngô
Quang Trưởng sanh ngày 13-12-1929, tại Giao Thanh. tỉnh Bến Tre, trong
một gia đình được coi là khá giả ở miền Nam. Sau khi hoàn tất bậc trung
học ở trường Trung Học Mỹ Tho, ông gia nhập trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ
Đức. Ra trường tháng 6 năm 1954, tân thiếu úy Ngô Quang Trưởng đậu hạng
162 trên 1148 tân sĩ quan của Khóa 4. Khóa 4 Sĩ Quan trừ Bị Thủ Đức (ra
trường cùng thời gian với khóa 10 trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt) là một
trong những khóa sĩ quan đông nhất và đào tạo nhiều sĩ quan sau này là
rường cột của QLVNCH. Cùng khóa 4 với tướng Trưởng là các tướng Bùi Thế
Lân, Lê Quang Lưỡng, Hồ Trung Hậu, Nguyễn Văn Điềm, Vũ Văn Giai. Những
người bạn cùng khóa còn lại là những sĩ quan chỉ huy trưởng quan trọng
của các sư đoàn, lữ đoàn, như Nguyễn Trọng Bảo, Liêu Quang Nghĩa, Tôn
Thất Soạn, Nguyễn Thu Lương, Nguyễn Thế Lương, Hoàng Tích Thông, Lê Cảnh
Dị, Phạm Hy Mai, Nguyễn Viết Cần. . . . Một số những sĩ quan nói trên
hoặc đã hy sinh vì tổ quốc, hoặc đã trải qua một thời gian dài đầy cay
đắng trong lao tù cộng sản chỉ vì có tội trung thành với Tổ quốc của họ.
Ra trường, tướng Trưởng chọn binh chủng
Nhảy Dù và được chỉ định về phục vụ ở tiểu đoàn 5, tiểu đoàn mà chưa đến
một năm trước đó đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng; tiểu đoàn của đại
úy Phạm Văn Phú, của những đồi Eliane, Dominique, ở Điện Biên Phủ. Trừ
cấp bực đại úy được chánh phủ thăng thưởng chung cho nhiều sĩ quan có
thârn niên quân vụ đến thời gian đó (l tháng 11 1961), tất cả cấp bực về
sau, tướng Trưởng được đặc cách ngoài mặt trận, hay được đính thân tư
lệnh chiến trường, tư lệnh quân đội vinh thăng. Vinh quang đầu tiên của
tướng Trưởng xảy ra vào cuối tháng 2 năm 1964, khi tiểu đoàn 5 của Nhảy
Dù đánh vào mật khu Đỗ Xá (Đỗ xá là một địa danh nằm ngay biên giới của
ba tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Tín và Kontum), ở Vùng I. Với chiến thắng này,
cố đại tương Đỗ Cao Trí (lúc thiếu tướng Trí coi Vùng I) đích thân đặc
cách thiếu tá nhiệm chức cho tướng Trởng. Đầu tháng 6-1964, ông được
lên thiếu tá thực thụ – một cấp bực rất hiếm trong tháng năm đó cho một
sĩ quan với mười năm quân vụ.
Sau cuộc đảo chánh 1 thắng 11, năm 1963,
trong khi thủ đô Sài Gòn sôi sục với những biến động chính trị, thì
những người quân nhân thuần túy vẫn thi hành nhiệm vụ của họ ở chiến
trường. Hoạt động của cộng sản gia tăng mạnh. Với những yểm trợ vũ khí
và huấn luyện của các đơn vị chánh quy xâm nhập từ miền Bắc vào. Việt
Cộng bây giờ đã có đủ quân và vũ khí để đánh cấp trung đoàn nếu không
nói là sư đoàn. Cuối năm 1964 đầu năm 1965, sau khi phục kích và đánh
thiệt hại hơn ba phần tư tiểu đoàn 4 TQLC và một tiêu đoàn Biệt Động
Quân ở Bình Giả, Phước Tuy, cộng sản tụ quân lại chung quanh địa cứ đó
để biểu dương lực lượng. Bộ Tổng Tham Mưu lập tức khởi động chiến dịch
Nguyễn Văn Nho, cho hai tiểu đoàn Nhảy Dù, ba tiểu đoàn TQLC và một chi
đoàn thiết giáp trở lại Bình Giả truy lùng các đơn vị cộng sản. Nhưng
khi thấy lực lượng hùng hậu đó, các đơn vị cộng sản lẫn tránh giao
tranh. Nhưng cùng lúc, theo tin tức tình báo đến từ thiếu tá Lê Đức Đạt
tỉnh trưởng Phước Tuy, cộng sản sẽ đem ba cố vấn Mỹ mà họ bắt được trong
trận Bình Giả trước đó, diễn hành như một chiến thắng cho dân chúng địa
phương coi (trong trận Bình Giả, Hoa Kỳ có 5 tử trận, 8 bị thương, và 3
mất tích). Tin tức này cũng được MACV xác nhận: MACV cho biết máy bay
thám thính xử dụng hồng ngoại tuyến đã chấm được tọa độ đóng quân của
cộng sản ở chung quanh xã Bình Giả và Hắc Dịch (Bình Giả, Bình Ba, Ngãi
Giao và Hắc Dịch là bốn xã tạo thành Tống Cơ Trạch.
“Tổng”
là một đơn vị hành chánh cho một vài vùng lúc đó. Có nhiều sách địa lý
gọi là Hắc Dịch). Với tin tức cụng cấp, Sài Gòn quyết định trở lại truy
lùng các đơn vị còn lẩn quẩn chung Bình Giả thêm một lần nữa. Lần này
lực lượng tân công là ba tiểu đoàn Nhảy Dù. Ngày 9 tháng 2-1965, tiểu
đoàn 5 của Ngô Quang Trưởng; tiểu đoàn 6, Vũ Thế Quang; và tiểu đoàn 7,
Ngô Xuân Nghị, nhảy vào Hắc Dịch. Tiểu đoàn 5 và 6 là lực lượng chánh
tấn công, tiểu đoàn 7 đi sau lưng để yểm trợ và chận không cho các đơn
vị cộng sản thoát ra liên tỉnh lộ 15. Theo đại tá Nguyễn Thu Lương kể
lại – lúc đó là đại úy đại đội trưởng tham dự cuộc hành quân – khí tiểu
đoàn 5 đã nhận ra và tiến vê mục tiêu là một ngôi làng có tên là Phước
Chi, cộng sản cho đốt rừng tre và cỏ tranh trước mặt hướng tiến quân. Họ
hy vọng khi lính Dù thấy lửa cháy trước mặt thì sẽ quay đầu lại tìm
hướng khác tấn công … và cộng quân sẽ bất ngờ phục kích khi lính tiểu
đoàn 5 đi ngược lại. Nhưng tiểu đoàn trưởng Ngô Quang Trưởng không cho
lính quay lại; ông ra lệnh xung phong thẳng qua thế hỏa công của địch,
đánh thẳng vào bộ chỉ huy cộng sản trước mặt, ở phía sau đám lửa đốt
ngụy công đó. Và kết quả của trận chiến? Theo tiểu đoàn trưởng Vũ Thế
Quang, “… ông Trưởng đã đánh một trận để đời; đánh tan lực lượng Việt
cộn ở Hắc Dịch. Và tên ông Trưởng được nhắc đấn nhiều từ trận đó” Theo
báo chí Hoa Kỳ tường trình lại, trong trận này, tướng Trưởng và lính
tiểu đoàn 5 Dù đã cứu được vị đại úy Mỹ cố vấn tiểu đoàn, Đại úy Thomas
B. Throckmorton là con trai của trung tướng John L. Throckmorton, tư
lệnh phó cho đại tướng William Westmoreland, đương kim tư lệnh MACV.
(Cũng muốn nói thêm ở đây, tướng Trưởng hình như có duyên với những sĩ
quan Mỹ cố vấn cho ông: Trong thời gian ở Sư Đoàn nhảy Dù, ba người cố
vấn đều là con của tướng hay là trở thành tướng của quân đội về sau. Sau
đại úy Throckmorton là thiếu tá Schwarzkopf. Thân phụ của Schawarzkopf
là chuẩn tướng; và chính ông thì trở thành đại tướng. Sau Schwarzkopf là
thiêu tá Guy S. Meloy, III. Cha của
Meloy lúc đó là đại tướng ở Mỹ; và Meloy sau này cũng trở thành một vị tướng, coi Sư Đoàn 82 Nhảy Dù trước khi về hưu.)
Nhưng cũng theo đại tá Quang, chiến thắng của Nhảy Dù, của tiểu đoàn
5, không được báo chí loan tin, hay nhắc đến rầm rộ, vì những biến động
chính trị ở Sài Gòn đã lấy đi tất cả sự chú ý lúc đó. Nhận định và quan
sát của đại tá Quang về chiên thắng bị bỏ quên của tướng Trưởng không xa
sự thật. Tháng 2 của năm 1965 là một tháng đầy biến động ở miền Nam:
Tướng Nguyễn Khánh vừa bị Hội Đồng Quân Nhân hạ bệ và muốn ông ta rời
khỏi Việt Nam; nội các của thủ tướng Trần Văn Hương thay đổi nhân sự tới
lui và có thể bị thay thế. Năm 1964-65 là năm mà trung úy TQLC Trần
Ngọc Toàn – người đã thoát chết trong trận Bình Giả – gọi là năm của
những sĩ quan cao cấp ngồi ở nhà tranh luận và bảo vệ vị thế chính trị
cá nhân, trong khi các sĩ quan cấp nhỏ thì đang chết ở chiến trường bảo
vệ họ; năm 1964-65 có nhiều đảo chánh – hay tin đồn đảo chánh – đến độ
tác giả Nhảy Dù Phan Nhật Nam, khi cho người lính trong trung đội văng
mặt một chút, nhưng căn dặn phải trở lại đơn vị ngay “khi nghe nhạc đảo
chánh trổi lên trên đài phát thanh.” Trong khi tờ tường trình về chiến
thắng Hắc Dịch chưa kịp gởi về Hoa Thịnh Đốn, thì Hoa Thịnh Đốn đã quan
tâm, lo lắng, về những thiệt hại ở trận Bình Giả, và họ chuẩn bị gởi
quân tác chiến qua Việt Nam, dựa vào tờ tường trình của CIA gởi về Hoa
Thịnh Đốn hai tuần trước. Nhưng cũng có thể, trong tuần lễ thứ nhì của
tháng 2 năm đó, QLVNCH đang hân hoan về một chiến thắng khác lớn hơn,
quan trọng hơn: ngày 16 tháng 2. ở Vũng Rô, Phú Yên, Không Quân VNCH đã
đánh chìm một chiếc tàu sắt, chở hàng trăm tấn vũ khí từ miền Bắc vào
tiếp tế cho cộng sản ở miền Nam. Với số vũ khí tịch thu được ở Vũng Rô,
sự quên lãng của báo chí về trận Hắc Dịch có thể hiểu được.
Chưa nhạt mùi thuốc súng ở Vùng III, tháng 3-1965, tướng Trưởng đem
tiểu đoàn trở lại Vùng I đánh trận Thăng Bình. Chiến thắng ở Thăng Bình
có sự quan sát của một sĩ quan sau này trở thành đại tướng: Norman
Schwarzkopf. Tướng Schwarzkopf lúc đó là thiếu tá cố vấn của tiểu đoàn.
Hai mươi năm sau, sau khi cuộc chiến đã tàn; miền Nam đã thất thủ, tướng
Schwarzkopf vẫn không quên ấn tượng ông thấy, và bài học ông học được
về lối điểu binh của tướng Trưởng. Năm 1995 khi tướng Schwarzkopf trở
lại Việt Nam thăm chiến trường cũ, ông có thực hiện một chương trình
truyền hình cho một hãng thông tấn. Chiếu lại địa hình của trận Thăng
Bình ông nói, khi tiêu đoàn lọt vào địa cứ của cộng sản, quân địch tràn
ra đánh. Tiêu đoàn 5, dù bị thiệt hại, nhưng họ chấp nhận và tiếp tục
xung phong và chiếm được mục tiêu…. Lính của tướng tTrưởng đánh như để
thử thách đối phương; để chứng tỏ họ không sợ đối phương (trong trận
này, y sĩ tiêu đoàn là bác sĩ Đỗ Vinh bị tử trận. Bệnh viện Nhảy Dù Đỗ
Vinh là tên của vị y sĩ này). Nhưng sự khâm phục của một vị tướng tương
lai không quan trọng bằng sự hài lòng của một vị tướng đang quan sát mặt
trận: thiếu tướng Nguyên Chánh Thi đang là tư lệnh Vùng I. Với tiểu
đoàn chiến thắng là tiêu đoàn cũ của mình 10 năm trước (tướng Thi coi
tiều đoàn 5 Nhảy Dù tháng 5-1955), tướng Thi đặt cách cho tướng Trưởng
lên trung tá.
Lên trung tá trong những năm của thập niên 1960 là niềm vui một sự
hãnh diện, nếu người đó không còn thích làm tiều đoàn trưởng hay thích
đi tác chiến. Vào thời đó, tiểu đoàn trưởng -commandant; chef de
bataillon; hay chef d’escadron – chỉ là thiếu tá. Trên thiếu tá thì . . .
phải đi tìm một việc khác! Lên trung tá, tướng Trưởng được gọi về làm
tham mưu trưởng sư đoàn. Nhưng làm về tham mưu không phải là việc làm
tướng Trưởng thích. Và ông để lộ ra ý nghĩ đó vài tháng sau, khi được
chỉ định làm tư lệnh phó sư đoàn Nhảy Dù.
Giữa tháng 5 năm 1966 một biến cố xảy ra làm thay đổi cuộc đời của
tướng trưởng. Những biến động đồn dập ở miền Trung gây ra nhiều sự lo âu
cho chính quyền trung ương Sài Gòn. Sài Gòn thay sáu tư lệnh Vùng I
trong ba tháng, nhưng tình hình vẫn không thay đổi. Hội Đồng Quân Nhân
quyết định dùng quân đội để tái lập trật tự. Tướng Trưởng, đang là tư
lệnh phó Nhảy Dù, dưới quyền chỉ huy của tướng Cao Văn Viên và đại tá
Nguyễn Ngọc Loan đem năm tiểu đoàn Nhảy Dù và TQLC ra Vùng I để tái lập
trật tự. Sau cuộc hành quân biểu dương thẩm quyền trung ương, tướng
Trưởng được thăng chức đại tá. Từ giai đoạn này đến ngày tướng Trưởng
rời binh chủng Nhảy Dù để về làm tư lệnh sư đoàn 1, chúng ta không biết
chuyện gì xảy ra – về phương diện tài liệu có được. Chúng ta không biết
tướng Trưởng bị hay đựơc chỉ định thay thế chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận,
tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Sau khi tướng Nhuận và một số sĩ quan cao cấp
của Vùng I bị đưa ra hội đồng kỷ luật. Theo những người quen với tướng
Trưởng kể lại tướng Trưởng đã lưỡng lự tạm thời nhận thức tư lệnh một sư
đoàn bộ binh vì ông không muốn rời màu áo của lính Dù. Tướng Trưởng từ
Sài Gòn đi máy bay ra Huế để nhận nhiệm sở mới. Và để giới thiệu với đơn
vị mới cùng người dân địa phương mình là lính Dù, tướng Trưởng nhảy dù
xuống Huế để nhận nhiệm sở. Nhưng nhảy dù biểu diễn đôi khi có nhiều rũi
ro hơn là nhảy dù vào trận địa. Ngày hôm đó chắc trẻ con và dân chúng
Huế ở hai bên bờ sông sẽ reo hò thích thú khi thấy một người lính Dù đáp
xuống nước giữa sông Hương! Theo lời đại tá Tôn Thất Soạn, lúc đó đang
cùng đại tá Nguyễn Thanh Yên chỉ huy các đơn vị TQLC đang có mặt ở Huế,
một chiếc thuyền máy chờ sẳn trên sông chạy đến vớt tướng Trưởng lên. Tử
sông Hương, TQLC dùng hai xe Jeep hộ tống tướng Trưởng vào thành nội
Huế để nhận chức tư lệnh đầu tiên của ông.
Trong thời gian chỉ huy Sư Đoàn 1 Bộ Binh, tướng Trưởng được nhiều sĩ
quan Hoa Kỳ chú ý. Trong hồi ký A Soldier Reports, Westmoreland nói ông
nhận được nhiều báo cáo tốt về Sư Đoàn 1 và người tư lệnh. Tớng
Westmoreland đi xa hơn khi ông viết, “nhiều tướng lãnh nói cho tôi biết
họ tin vào khả năng của tướng Trưởng đến độ họ nghĩ ông có thể chỉ huy
một sư đoàn lính Mỹ được”. Năm 1999 khi tác giả Lewis Sorley cho ra tác
phẩm A Better War , và sau đó năm 2004, The Abrams Tapes, chúng ta mới
đọc đợc nhiều lời bình phẩm về tướng Trưởng giữa các tướng lãnh cao cấp
Mỹ ở bộ tư lệnh MACV. Lý do phải chờ những cuốn sách nói trên ra đời để
biết thêm những nhận định về tướng Trưởng, là vì phần lớn những nhận
định xảy ra trong những cuộc đàm thoại bí mật ở MACV. Hai tác phẩm của
nhà quân sử Sorley phần lớn dựa vào những tài liệu giải mật của bộ tư
lệnh MACV.
Tướng Trưởng được thăng chức chuẩn tướng khi về chi huy Sư Đoàn 1.
Sau trận Mậu Thân 1968, tổng thống Thiệu thăng cấp tướng cho một số
tướng lãnh – một số tướng vì có công trạng, và một số tướng được thăng
chức để củng cố thế lực của tổng thống Thiệu trong quân đội. Chuẩn tướng
Trưởng có tên trong danh sách được thăng thưởng. Tướng Trưởng mang lon
thiếu tướng vào mùa thu năm 1968. Mùa xuân năm 1970, khi QLVNCH chuẩn bị
đánh qua Cam Bốt, trong một lần nói chuyện giữa tổng thống Thiệu và đại
tướng Abrams, ông Thiệu nói với tướng Abrams là ông muôn thay đổi một
số tư lệnh sư đoàn và quân đoàn và theo ý kiến của tướng Abrams thì ai
xứng đáng cho những chức vụ tư lệnh mới. Đại tướng Abrams nói ông không
hiểu hay biết nhiều về tâm lý người Việt Nam. Nhưng với tất cả sự thiếu
hiểu biết của một nười Mỹ, ông nghĩ tướng Trưởng là người xứng đáng
nhất; một người tướng có khả năng về mọi mặt, nhất là về bình định nông
thôn, một một chương trình mà chính phủ VNCH cần phải thực hiện nhanh.
Trước đó, trong một lần nói chuyện với đại tướng Cao Văn Viên, tướng
Abrams có so sánh lối chỉ huy của tướng Trưởng với lối chỉ huy của một
vị tướng tư lệnh sư đoàn khác cũng có khả năng như tướng Trưởng. Nghe
xong, tương Viên giải thích cho tớng Abrams về sự khác biệt giữa hai
ông tướng: khi tướng Trưởng ra một quân lệnh nào đó, ông sẽ đích thân đi
ra các cấp đơn vị từ nhỏ đến lớn đê coi lệnh của ông có được thi hành
không; trong khi người tương kia thì chỉ để cho sĩ quan dưới quyền hành
sự. Sau này, qua những gì sĩ quan báo cáo lại; Tướng Abrams nghĩ nhận
xét của đại tướng Viên là đúng. Và sau này, vào năm 1972, khi tướng
Trưởng ra chỉ huy Vùng I, hai người cố vấn Mỹ ở quân đoàn đều thấy lối
làm việc của tướng Trưởng: quân lệnh lúc nào cũng đi kèm với sự hiện
diện của ông ở mọi cấp của đơn vị. Trong khi tổng thông Thiệu còn đang
lưỡng lự với quyết định chọn lựa các tư lệnh quân đoàn, thì một biến cố
xảy đến bắt ông phải quyết định: Ngày 20 tháng 5-1970, thiếu tướng
Nguyễn Viết
Thanh, tư lệnh Vùng lV bị tử nạn trực thăng trong cuộc hành quân đánh
qua Cam Bốt. Tổng thống Thiệu bổ nhiệm thiếu tướng Ngô Dzu thay cố
trung tướng Thanh ở Vùng IV. Nhưng chỉ ba tháng sau, vì một lý do nào
đó, tổng thống Thiệu đưa tướng Dzu lên coi Vùng II, và chỉ định thiếu
tướng Trưởng về Vùng IV.
Vùng IV tương đối được yên tỉnh trong thời gian tướng Trưởng ở Vùng
IV. Trong thời gian này ông đã khích động tinh thần của binh chủng Nghĩa
Quân và Địa Phương Quân – một binh chủng cho đến thời gian đó gần nư
bị bỏ quên trong cấp số của QĐVNCH. Ông cố gắng hiện đại hóa bỉnh chủng
này, và tuyên bố, trên đường dài của cuộc chiến, nghĩa Quân và Địa
Phương Quân sẽ là lực lượng rường cột của quân đội trên đường dài. Mùa
hè năm 1972 chứng minh nhận định của tướng Trưởng: tướng cao điểm của
cuộc tổng tấn công vào miền Nam, từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 10 tháng 6,
các đơn vị chủ lực của QLVNCH bị thiệt hại 23 ngàn quân so với 14 ngàn
của nghĩa Quân và Địa Phương Quân. Phần lớn 14 ngàn thương vong này xảy
ra ở Vùng IV. Trong thời gian ở Vùng IV, ông cũng phát động nhiều cuộc
hành quân vào các chiến khu mà từ trước được coi là vùng bất khả xâm
phạm của cộng quân. Đầu năm 1971, ông ra lệnh cho trung đoàn 33/ Sư Đoàn
21, vào chiếm chiến khu U Minh Thượng và lập nhiều đồn bót ở đó. Khi
đại sứ Bunker xuống viếng thăm, ông hỏi tướng Trưởng sẽ định đóng quân ở
mật khu U Minh Thượng đó bao lâu, “ở lại luôn”, tướng Trưởng trả lời.
Ngoài mật khu U Minh Thượng, hai Sư Đoàn 7 và 9 của quân đoàn cũng tấn
công và thiết lập sự hiện diện thường trực ở các mật khu Thất Sơn, Đầm
Dơi, và Đồng Tháp.
Nhưng sự bình yên của Vùng IV không kéo dài để tướng Trưởng hưởng thụ
những thành quả, hay tiếp tục thực hiện những kế hoạch mà ông dự định
cho Vùng IV. Mùa xuân năm 1971 ông nghe ngóng tin tức của cuộc hành quân
Lam Sơn 719 đánh qua Lào với nhiều lo lắng. Năm đó ông cũng rất buồn
khi tiễn đưa một chỉ huy trưởng cũ ra đi vĩnh viễn: trung tướng Đỗ Can
Trí, cựu tư lệnh Nhảy Dù bị tử nạn trực thăng vào ngày 23 tháng 2-1971,
trong khi chỉ huy quân của Vùng III đánh qua Cam Bốt lần thứ hai. Ngoài
tướng Trí, ông cũng mất một số bạn bè Nhảy Dù ở Hạ Lào.
Thứ Năm ngày 30 tháng 3-1972, cộng sản tấn công qua vùng quân sự ở
Vùng I. Vài ngày sau, các cuộc tổng tấn công cũng bắt đầu Ở Vùng II và
III. Ở Vùng IV, cộng quân đã có nhiều hoạt động chuẩn bị cho cuộc tổng
công kích từ giữa tháng 3. Theo lởi tướng Trưởng kể lại, trong suốt
tháng 4, cộng quân tấn công vào 5. 6 tỉnh của Vùng IV, nhưng các cuộc
tấn cộng không đủ mạnh để gây lo lắng cho QLVNCH như họ đang lo lắng cho
ba Vùng còn lại, nhất là Vùng I. Ngày 2 tháng 5-1972. Quảng Trị thất
thủ. Ngày hôm sau, 3 tháng 5, tông thống Thiệu triệu tập các tư lệnh
Vùng về họp ở dinh Độc Lập. Trong buổi họp tổng thống Thiệu chỉ định
thiếu tướng Trưởng ra thay tướng Hoàng Xuân Lãm ở Quân Đoàn I với chức
trung tướng tư lệnh Quân Đoàn. Đúng một tuần sau tổng thông Thiệu chỉ
định thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn – đang là tư lệnh phó cho tướng Trưởng –
về thay trung tướng Ngô Dzu ở Quân Đoàn II.
Tướng Trưởng bay ra Huế cùng ngay nhận được lệnh. Khi đến Huế thì
tình hình Vùng I đã bi quan rồi. Chúng ta có thể thay chữ bi quan bằng
chữ bi đát ở đây. Ngày hôm sau, ông ra lệnh lập bộ tư lệnh tiền phương
của Quân Đoàn ở hướng bắc thành phố Huế. Đồng thời ông ra lệnh tất cả
các quân nhân đang đi lạc khỏi đơn vị, hay không còn đơn vị đê trở về,
phải tìm cách trình diện thẩm quyền quân sự lập tức. Mọi sự bất tuân
thợng lệnh sẽ bị trừng phạt ngay tại chỗ. Sau khi phân chia vùng trách
nhiệm tác chiến cho các đơn vị đã được ổn định, tướng Trưởng tái huấn
luyện, tái trang bị lại cho các đơn vị bị tan rã một tháng trước đó.
Trong khi chờ đợi các đơn vị hoàn phục sức tác chiến, ông xử dụng hỏa
lực của hải quân và không quân Hoa Kỳ để phá hủy các điểm tập trung quân
của cộng sản. Trong tháng 5, sau khi được Bộ Tổng Tham Mưu tăng viện
cho hai lữ đoàn Dù, tướng Trưởng bắt đầu chuyển từ thế phòng thủ qua thế
tấn công giới hạn. Tấn công giới hạn ở đây có nghĩa là ông dùng trực
thăng vận để bất thần đột kích sau lưng những đơn vị cộng sản.
Với không vận cung cấp từ TQLC Hoa Kỳ, tướng Trưởng cho những tiểu
đoàn của TQLC và Sư Đoàn 1 đột kích sau lưng địch. Hai tiểu đoàn của lữ
đoàn 369 nhảy vào Hải Lăng; Lữ đoàn 147 vừa đổ bộ bằng tàu lên Mỹ Thủy,
vừa đổ bộ bằng trực thăng vào Cổ Lũy. Sau những lân đột kích như vậy,
TQLC hoàn tất nhiệm vụ và trở lại tuyến bạn một cách an toàn. Cùng lúc,
Sư Đoàn 1 bất thần nhảy vào chiếm lại căn cứ hỏa lực Bastogne, rồi từ đó
chiếm lại luôn căn cứ Checkmate. Đây là hai cao điểm quan trọng bảo vệ
hướng tây nam của Huế. Cuối tháng 5, Sài Gòn cho tướng Trưởng thêm lữ
đoàn 1 Dù. Như vậy Vùng I bây giờ có được hai sư đoàn tổng trừ bị đủ và
ba sư đoàn bộ binh thiếu. Tình hình cuối tháng 5 ở Vùng I sáng sủa hơn
hai tháng trớc. Ngày 28 tháng 5, trước cửa Ngọ Môn Huế, tướng Trưởng
chứng kiến người bạn cùng khoá, đại tá TQLC Bùi Thế Lân, được tổng thống
Thiệu gắn cho ngôi sao chuẩn tướng trên vai. Để đáp lại sự khen thưởng
đó, tướng Lân thề sẽ lây lại Quảng Trị.
Cuối tháng 6, khi thấy mình có đủ quân và khả năng để lây lại Quảng
trị, ông soạn thảo một kế hoạch và trình về Sài Gòn; cùng lúc ông cho
MACV một bản sao của kế hoạch hành quân. Vài ngày sau, trước khi Sài Gòn
trả lời, MACV đã trả lời nói với ông là chưa đến lúc. MACV đề nghị ông
tiếp tục đột kích và chờ một thời gian nữa. Thất vọng vì kế hoạch không
được chấp nhận, Tướng Trưởng bay về Sài Gòn đích thân tường trình kê
hoạch cho tổng thống Thiệu. Theo những gì tướng Trưởng viết lại trong
tác phẩm The Easter Offensive of 1972, sau khi nghe kế hoạch của ông,
tổng thống Thiệu – cũng có thái độ như MACV – ra lệnh cho ông chờ thêm
một thời gian nữa. Trong lúc này chỉ nên tấn công phá rối và đột kích
như đang làm. Bực tức trong sự yên lặng, tướng Trưởng gom bản đồ lại và
bay trở về bộ tư lệnh. Sau một đêm mất ngủ, sáng sớm hôm sau ông gọi
điện thoại cho trung tướng Đặng Văn Quang, cố vấn an ninh quốc gia cho
tổng thống Thiệu, ông nói: “tôi sẽ không đệ trình thêm một kế hoạch nào
nữa. Nếu họ muốn tôi thi hành ra sao thì nên đưa cho tôi một bản kế
hoạch bằng tiếng Việt và tôi sẽ thi hành”. Những chữ nghiêng trong câu
trích dẫn là do người viết đánh dấu. Người viết muốn nhấn mạnh những chữ
đó, vì đây là một câu nói bí mật, khó hiểu. Phải chăng người Mỹ đã làm
áp lực với tổng thống Thiệu và không cho tướng Trưởng đánh trong thời
gian đó, hay đánh theo ý của QLVNCH?
Qua những tài liệu của MACV được giải mật sau này, trong khoảng thời
gian từ 1 đến 24 tháng 6, tình hình Vùng I và tên của tướng Trưởng được
nhắc đến nhiều lần. Những tài liệu mật cho thấy MACV không nói gì đến kế
hoạch phản công chiếm lại Quảng Trị, nhưng có vài đoạn chúng ta đọc
thấy MACV và chính tướng Abrams lo ngại Quân Đoàn I không đủ quân để
thực hiện một kế hoạch đầy tham vọng như vậy. Trong tập hồ sơ giải mật
do sử gia Sorley soạn thảo – và tướng Trưởng cũng ghi những chi tiết
tương tự trong tác phẩm của ông – đến giữa tháng 6-1972, Quân Đoàn I chỉ
có hai sư đoàn TQLC và Nhảy Dù là đủ cấp số và khả năng tác chiến. Các
đơn vị cơ hữu còn lại của Quân Đoàn – ba sư đoàn bộ binh 1. 2. 3; Lữ
đoàn 1 Thiết Kỵ, và Liên Đoàn 1 BĐQ – chỉ còn một-phần-ba cấp số và khả
năng tác chiến nguyên thủy. Sư đoàn 3 chỉ còn hai tiểu đoàn tác chiến
được; bốn tiểu đoàn thì đang được tái trang bị và bổ xung.
Lữ Đoàn 1 Thiết Kỵ mất hơn 200 xe tăng và thiết vận xa; 10 tiêu đoàn
pháo binh cần phải được trang bị lại 100% Trong một buổi họp ở MACV ngày
18 tháng 6 (hai ngày sau khi tướng Trưởng đề nghị kế hoạch tái chiếm
Quảng Trị), một sĩ quan sau khi tường trình về tình hình các đơn vị ở
Vùng I, nói tướng Trưởng cần phải có hơn hai sư đoàn Nhảy Dù và TQLC nếu
muốn tái chiếm Quảng Trị; ông không biết số quân cần thêm đến từ đâu
nhưng phải có nếu tướng Trưởng muốn thực hiện kế hoạch hành quân. Cũng
trong buổi họp này, sĩ quan thuyết trình nói đến vấn đề tiếp liệu đạn
đại bác cho Vùng I. Đại bác 105 ly được giới hạn lại 20 quả cho một
khẩu/một ngày; trong trường hợp cần thiết 40/ngày. Nếu bắt đầu chiến
dịch tái chiếm Quảng Trị, pháo binh có thể xài 120 viên, và có thể 180
vlên khẩu/một ngày.
… Trong trường hợp đó, Hoa Kỳ có khó khăn trong việc tiếp tế. Về
tướng Abrams, chúng ta đọc được sự lo ngại của ông về hỏa lực phòng
không của địch, nhất là loại hỏa tiễn địa không SA-7. MACV cho biết địch
bắn 14 quả SA-7 và hủy diệt 6 phi cơ. Tướng Abrams nói ông nhấn mạnh
với Tướng Trưởng về sự nguy hiểm của loại hỏa tiễn địa không mới, vì
tướng Trưởng sẽ dùng nhiều trực thăng vận cho cuộc đổ bộ tái chiếm. (Sự
lo sợ của tướng Abrams không phải không có lý. Vì chỉ một tháng sau,
trong cuộc độ bộ xuống Triệu Phong nằm trong khuôn khổ cuộc hành quân
chiếm lại Quảng Trị, hai chiếc trực thăng CH-53 chở quân tiểu đoàn 1
TQLC của trung tá Nguyễn Đăng Hòa bị hỏa lực phòng không địch bắn rơi.
Một trong hai chiếc bị SA-7 bắn nổ tung trên trời. Thiệt hại quân là hơn
100 tử thương từ hai chiếc). Đó là tất cả những gì chúng ta biết về
MACV và tướng Trưởng vis-a-vis cuộc hành quân tái chiếm Quảng Trị. Dĩ
nhiên đó là những gì đã được giải mật; những gì chưa được giải mật chúng
ta chưa biết đợc.
Chín giờ sáng hôm sau tổng thống Thiệu gọi điện thoại và yêu cầu
tướng Trưởng trở lại trình bày lại kế hoạch một lần nữa. Lần này tổng
thống Thiệu chấp nhận kế hoạch hành quân tái chiếm Quảng Trị của tướng
Trưởng. Hành quân Sóng Thần 72 sẽ bắt đâu ngày 28 tháng 6, 1972.
Theo tướng Trưởng, kế hoạch tái chiếm Quảng Trị rất “đơn giản”: từ
ngày 10 đến ngày 18, trong khi hai Sư đoàn 2 và 3 bộ binh ở lại lo bảo
vệ và phòng thủ, Sư đoàn 1 tấn công về hướng tây, Nhảy Dù và TQLC đánh
nhích qua sông Mỹ Chánh vài cây số thăm dò khả năng phản cự của địch. Từ
19 đến 27 tháng 6, với sự giúp đỡ của không và hải vận Mỹ, hai sư đoàn
tổng trừ bị làm bộ nhảy vào Cam Lộ và Cửa Việt. Và hai ngày trước khi
thật sự tiến quân, hỏa lực từ Không và hải Quân và B-52 sẽ dọn bãi và
san bằng những điểm kháng cự khả nghi. Ngày 28, Nhảy Dù đánh bên trái,
mục tiêu là La Vang; TQLC đánh bên phải, mục tiêu là Triệu Phong. Quốc
lộ 1 là trục làm chuẩn của hướng tiến quân. Nhảy Dù là lực lượng có
trách nhiệm chiếm thành phố Quảng Trị. Những ngày đầu của cuộc hành
quân, Dù và TQLC đánh chậm nhưng đi được. Trừ một vài trận đụng độ mạnh
cấp trung đoàn với địch ở những lớp phòng thủ vòng ngoài . . . địch rút
dần theo đà tiến của chúng ta.
Nhưng càng đi gần về bờ sông Thạch Hãn, sức chống cự của dịch càng
mãnh liệt hơn. Đầu tháng 7, khi quân Nhảy Dù đến ngoại ô thành phố Quảng
Trị, cộng quân từ chối rút: Cổ thành Quảng Trị là cứ điểm kháng cự cuối
cùng – đến người cuối cùng; viên đạn cuối cùng – của cộng quân. Chẳng
những địch quyết tâm tử thủ, họ còn viện quân thêm từ ngoài vào để củng
cô thêm hang phòng thủ. Để chận đường tiếp liệu, tiếp quân của địch,
tướng Trưởng ra lệnh cho một tiêu đoàn TQTC trực thăng vận vào một địa
điểm ở hướng đông bắc của thành phô để ngăn chân hướng tiếp tế của địch …
nhưng TQLC bị bộ binh và thiết giáp của địch chân đứng ngay nơi họ đổ
bộ. Nhưng sau khi chỉnh đốn, lính tiểu đoàn 1 của Nguyễn Đăng Hòa chẳng
những bám được địa điểm đổ quân, họ còn gom địch ngược về hướng tây (về
hớng Cổ Thành). Đến ngày 14, TQLC thành công cắt được đờng liên lạc
tiếp tế 560 của địch. Hơn 50 ngàn quân của địch ở Quảng Trị bây giờ chờ
gạo từng ngày.
Cuối tháng 7, các cuộc tấn công của Nhảy Dù hết hơi: Cách bức tường
Cổ Thành Quảng Trị chừng 200 mét, lữ đoàn 2 của đại tá Trân Quốc Lịch
“hết xăng”. Tướng Trưởng thông cảm cho lực lượng Nhảy Dù: Những trận
đánh đấm máu ở Võ định, Tân Cảnh, ở Quân Đoàn II đã làm lữ đoàn 2 bị
móp. Cộng thêm vào đó là sự cương quyết tử thủ của cộng quân. Không cần
phải nghe Sài Gòn nhắc, tướng Trưởng biết Cổ Thành bây giờ là một mục
tiêu chính trị; một biểu tượng chính trị cho hai phía VNCH và cộng sản
Bắc Việt ở Paris (lúc này cộng sản đã trở lại bàn hội nghị), ở trên đầu
môi chót lưỡi của mọi người dân hai phía. Trong tác phẩm của ông, tướng
Trưởng nói ông không còn chọn lựa nào khác: Đánh không vào được, hay bao
vây chung quanh, hay đi vòng qua Cổ Thành chiếm các mục tiêu khác, rồi
sau đó trở lại chiếm Cổ Thành trong một thời gian khác, cũng không được;
cũng bị giải thích là thua. Chỉ có Cổ Thành nằm trong tay VNCH thì mới
gọi là thắng.
Ngày 27 tháng 7-72, tướng Trưởng thay Nhảy Dù bằng TQLC. “Mục tiêu
vẫn như cũ; chỉ thay đổi vùng trách nhiệm,” Tướng Trưởng viết. Nhận được
lệnh, thiếu tướng Bùi Thế Lân dung hai lữ đoàn 147 và 258 TQLC quyết
tâm đánh chiếm Cổ Thành. Tám tiểu đoàn tác chiến và một tiểu đoàn pháo
binh TQLC bỏ ra hơn 50 ngày để hoàn tất nhiệm vụ. Theo lời kể của đại tá
Ngô Văn Định, lữ đoàn trưởng 258, đến ngày 16 tháng 9, khi quốc kỳ VNCH
tung bay trên kỳ đài Cổ Thành, TQLC đã mất trên 3500 tử thương, và hàng
ngàn quân nhân khác bị thương. Với sự thiệt hại đó câu nói “Nhất tướng
công thành, vạn cốt khô” nói lên thật nhiều ý nghĩa.
Cuối năm 1972, cuộc chiến Việt Nam đã đến thế cờ tàn trên ván cờ
chính trị quốc tế: hơn bốn tháng sau, ngày 27 tháng 1-1973, VNCH không
còn chọn lựa nào khác hơn là ký vào hiệp định ngưng bắn; tự ký vào một
bản án tử hình cho chính mình. Tuyến đầu Vùng I của tướng Trưởng bị áp
lực thường xuyên từ mùa thu năm 1974. Không còn lo sợ không lực của Hoa
Kỳ, cộng sản rãnh tay kiến tạo hệ thống tiếp liệu của họ: đờng “mòn” Hồ
Chí Minh bây giờ là một xa lộ với những quán ăn như “Quán ăn Trường
Sơn”. Phi trường Khe Sanh trở thành một căn cứ hỏa tiễn SAM của địch.
Trực thăng Bắc Việt có thể đáp ở phi trường Vĩnh Linh, bên kia bờ sông
Bến Hải, để đưa các cán bộ cao cấp của họ đi thẳng vào thăm các binh
trạm của binh đoàn Trường Sơn. Tháng 7-1974, sư đoàn 304 đánh chiếm
Thường Đức, Quảng Nam, rất đau lòng, rất lo lắng, nhưng tướng Trưởng
phải “mượn” hơn một lữ đoàn Nhảy Dù để giải tỏa áp lực của địch từ cao
điểm 1062 đang đè xuống Đà Nẵng. Dĩ nhiên Nhảy Dù giải tỏa được cao điểm
1062. Nhưng phải tốn 500 quân chết và gần 2000 quân bị thương – trận
đánh lớn nhất từ sau ngày ngưng bắn. Vùng I, trong những ngày tháng đó,
chỉ ổn định được với sự hiện diện của hai sư đoàn tổng trừ bị Nhảy Dù và
TQLC.
Phước Long mất vào đầu năm 1975; Ban Mê Thuột mất, và Pleiku, Kontum
bỏ ngỏ để di tản vào ngày 16 tháng 3-75. Vùng I và Tướng Trưởng chờ một
quyết định tối hậu từ Sài Gòn: Tử thủ hay rút quân về những cứ điểm để
phòng ngự.
Ngày 13 tháng 3-75, Sài Gòn gọi tướng Trướng về để duyệt xét lại các
kế hoạch phòng ngự Vùng I. Trong buổi họp này – và cho đến ngày VNCH bị
thất thủ – ai nói gì quân lệnh ra sao, nhiệm vụ của tướng Trưởng là gì .
. . vẫn còn nằm trong vòng bí mật. Chúng ta biết một chút nội dung,
biết một cách gián tiếp, nhưng không ai trong cuộc trực tiếp nói rõ
chuyện gì xảy ra. Chúng ta biết ngay trong buổi họp ngày 13 TT Thiệu ra
lệnh cho Tướng Trưởng phải giữ Vùng I với số quân cơ hữu của quân đoàn
và sư đoàn TQLC. Cũng trong buổi họp này, Tướng Trưởng biết Quân Đoàn I
phải “trả” sư đoàn Nhảy Dù lại cho Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng ông xin TT
Thiệu cho ông giữ lại sư đoàn TQLC để dân quân có được tinh thần. Trước
mặt ông, TT Thiệu cho ông tùy nghi xử dụng TQLC, chỉ trả sư đoàn Dù lại
mà thôi. Nhng sau buổi họp, trong lúc nói chuyện riêng giữa ông và thủ
tướng Khiêm, thủ tướng Khiêm nói hé ra là Sài Gòn có thể lấy TQLC khỏi
Vùng I. Ngày 14, TT Thiệu ra Nha Trang ra lệnh cho thiếu tướng Phạm Văn
Phú di tản tất cả quân còn lại ở Kontum và Pleiku về Tuy Hòa, Nha trang,
để tái trang bị và bổ xung rồi từ đó … đánh ngược lên chiếm lại Ban Mê
Thuột và Vùng II !
Trở lại Quân Đoàn I ngày 14, Tướng Trưởng thông báo quyết định của
sài Gòn cho trung tướng tư lệnh phó Lâm Quang Thi. Ông nói quân đoàn sẽ
được giữ lại 2 trong số 3 lữ đoàn củaTQLC. Hai lữ đoàn TQLC sẽ về thay
Nhảy Dù ở Đà Nẵng, vì lữ đoàn 2 Dù có thể được trưng dụng trong kê hoạch
chiếm lại Ban Mê Thuột. Ngày 18 thủ tướng Trân Thiện Khiêm bay ra Đà
Năng họp với tướng Trưởng (theo lời yêu cầu của Tướng Trưởng) để giải
quyết vấn đề dân di tản. Trong buổi nói chuyện ngày 13, Tướng Trưởng xin
thủ tương Khiêm giúp ông giải quyết vấn đề dân di tản đang dồn về thành
phố. Theo ông, dân di tản sẽ làm ứ động quốc lộ 1 con đường huyết mạch
để chuyển quân trên toàn Vùng I. Ngày 19, ông được yêu cầu trở về Sài
Gòn thêm một lần nữa để trình bày lại kế hoạch di tản và phòng thủ Vùng
I. Trong lẩn họp này, với tình hình dân chúng di tản tấp nập trên quốc
lộ 1, Tướng Trưởng nói rút quân từ Huế về Đà Nẵng trong tình trạng hôn
loạn đó sẽ khó thực hiện được, ông đề nghị cho ông ở lại tử thủ Huế, Đà
Nẵng và Chu Lai sẽ là điểm kháng cự cuối cùng của Vùng I. Tông thống
Thiệu và đại tướng Cao Văn Viên đồng ý. Tướng Trưởng bay trở lại Quân
Đoàn I và thông báo cho trung tướng Lâm Quang Thi quyết định của TT
Thiệu thêm một lân nữa.
Ngày hôm sau, 20 tháng 3, TT Thiệu lên đài phát thanh đọc lời hiệu
triệu, ra lệnh dân quân giữ Huế bằng mọi giá. Nhưng tối đêm đó, TT Thiêu
đôi ý: ông ra lệnh cho Bộ Tổng Tham Mưu đánh cho Tướng Trưởng một quân
lệnh, cho biết Sài Gòn chỉ còn đủ phương tiện để yểm trợ cho một cứ điểm
kháng cự. Trong ba cứ điểm Huế, Chu Lai, Đà Năng, Tướng Trường phải
chọn một. Dĩ nhiên, Đà Nẵng phải là cứ điểm ưu tiên. Tướng Trưởng ra
lệnh di tản về Đà Nẵng. Tướng Lâm Quang Thi, trong tác phẩm The
Twenty-five-year Century của ông, có nói quân lệnh thay đổi như vậy,
nhất là ở cấp quân đoàn thì khó làm việc, và gây thêm nhiều hoang mang
cho người thừa hành. Đại tướng Frederick Weyand, đang là tư lệnh Lục
Quân Hoa Kỳ, trong tờ tường trình cho tổng thống Ford sau chuyến viếng
thăm ở Việt Nam cuối tháng 3-75, cũng cho biết trong tuần lễ đó, Tướng
Trưởng đã nhận 3 quân lệnh trái ngược nhau từ TT Thiệu.
Trong hoàn cảnh hỗn loạn của Đà Năng, ngày 25 Tướng Trưởng nhận thêm
một tin không vui tư Sài Gòn: đích thân trung tướng Lê Nguyên Khang –
đang là tổng tham mưu phó quân đội – bay ra Đà Năng đưa cho Tướng Trưởng
một quân lệnh yêu câu ông trả lại sư đoàn TQLC ngay lập tức. Tướng
Trưởng phản đối, ông nói Đà Nẵng không thể nào phòng thủ được nêu không
có mặt của TQLC. Trong hai ngày 26-27,.Tướng Trưởng và Tướng Lâm Quang
Thi cố gắng san sẻ quân để lấp vào những lổ trống của vòng đai phòng thủ
càng lúc càng xiết chặt chung quanh Đà Nẵng. Chín giờ đêm ngày 27 ông
gọi cho Tướng Viên báo cáo tình hình và yêu cầu cho phép ông di tản sư
đoàn TQLC và những trung đoàn còn lại của sư đoàn 1 và 3. Tướng Viên nói
đó là quyết định của tổng thống thiệu. Tướng Trưởng gọi Dinh độc Lập,
nhưng tổng thống Thiệu không có mặt; khoảng 10 giờ đêm tổng thống Thiệu
gọi lại … sau khi nghe Tướng Trưởng báo cáo tình hình, ông Thiệu hỏi
Tướng Trưởng sẽ giải quyết rạ sao. Tướng Trưởng trả lời ông sẽ giải
quyết theo sự biến chuyên của tình hình. Tổng thống Thiệu cúp điện
thoại. Vài phút sau Tướng Trưởng ra lệnh di tản khỏi Đà Nẵng. Nhưng
không, đến đó không còn di tản nữa. Vì chữ di tản có chứa đựng một khái
niệm về sự thứ tự và trật tự trong lúc lui quân. Địch đã cắt nát quốc lộ
1 ra từng đoàn và đang dùng pháo binh để hăm dọa các cửa khẩu từ biển
đi vào bờ. Đến giờ phút dó, chữ bỏ ngõ có nghĩa và đúng nghĩa hơn chữ di
tản. Đà Nẵng và Vùng I mất hai ngày sau đó, và ngày sau, cộng quân gom
tất cả lực lượng của họ dang có mặt ở Vùng I lập ra một binh đoàn có tên
là Binh Đoàn Duyên Hải. Từ đó họ tiến về Vùng III.
Cuộc đời có nhiều nghịch lý và bi hài kịch. Tướng Ngô Quang Trưởng
sanh ra và lớn lên ở Bến Tre, một vùng đất được mệnh danh là cái nôi của
cộng sản; một nơi mà trong năm Mậu Thân 1968, một sĩ quan Hoa Kỳ tuyên
bố phải tàn phá hết để xây dựng lại, nhưng ông đã xả thân chống lại
những người cộng sản, chủ thuyết cộng sản, cho đến hết cuộc đời. Sanh ra
ở Bến Tre, nhưng Tướng Trưởng lớn lên, yêu, quí mến, và bảo vệ một vùng
đất thật xa cho đến hết cuộc đởi: ông thương Quảng Trị và Thừa Thiên
đến độ ông đặt tên người con trai út là Ngô Trị Thiên.
Tháng 8 năm ngoái, khi được thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh chuyển lời,
người viết có dịp nói chuyện với Tướng Trưởng. Trong lần nói chuyện đó,
với bản tính thích tìm căn nguyên của lịch sử, người viết mạo muội hỏi
Tướng Trưởng về thái độ của ngời Mỹ trong cuộc chiến “Mùa Hè Đỏ Lửa’’
năm 1972; hỏi về nội dung những đối thọai giữa ông và TT Thiệu vào tháng
3-1975. … Nhưng Tướng Trưởng tránh không trả lời thẳng những câu hỏi
đó. Ông chỉ nói . . cũng không có gì đê nói . . . tất cả đã được nói hết
rồi … những gì anh em chúng ta làm trong quá khứ đều có nghĩa”. Câu
chuyện tiệp tục được vài phút sau thì người viết lại cố gắng “lái” về
hai câu hỏi nguyên thủy. Lần này ông cũng tránh trả lời. Nhưng lần này
ông nói cho người viết nghe về triết lý của một người quan võ Á Đông.
Đại khái Tướng Trưởng muốn nói đến câu “Bại binh chi tướng bất khả ngôn
dũng. Vong quốc chi đại phu bất khả ngôn trí” (Tướng bại trân thì không
thể nói mình anh dũng. Bậc trí sĩ đại phu khi đã mất nước thì không thể
nói mình có mưu lược). Thâm thúy, thật thâm thúy.
Với tất cả sự kính trọng của một hậu sinh đối với Trung Tướng Ngô
Quang Trởng, người viết xin kính dâng lên vị tướng quá cố đôi dòng
tưởng niệm này./.
NGUYỄN KỲ PHONG