Friday, July 23, 2021

Cổ Thành Quảng Trị

 


Cổ Thành Quảng Trị

Ban đầu thành được đắp bằng đất, tới năm 1827 vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch. Thành có dạng hình vuông, chu vi tường thành là gần 2.000 m, cao 9,4 m, dưới chân dày 12 m, bao quanh có hệ thống hào, bốn góc thành là 4 pháo đài cao nhô hẳn ra ngoài. Trong những năm 1809-1945 nhà Nguyễn lấy làm thành lũy quân sự và trụ sở hành chính. Từ năm 1929, Pháp xây dựng thêm nhà lao ở đây và biến nơi đây thành nơi giam cầm các những người có quan điểm chính trị đối lập. Thành được xây theo lối kiến trúc thành trì Việt Nam với tường thành bao quanh hình vuông được làm từ gạch nung cỡ lớn; kết dính bằng vôi, mật mía và một số phụ gia khác trong dân gian. Thành trổ bốn cửa chính Đông Tây Nam Bắc. Sau chiến dịch Cổ Thành mùa "hè đỏ lửa" 1972 toàn bộ Cổ Thành gần như bị san bằng; chỉ còn sót lại một cửa hướng Đông tương đối nguyên hình và vài đoạn tường thành cùng giao thông hào bên ngoài chi chít vết bom đạn. Trong thập niên 90 của thế kỷ 20, chính quyền sở tại cho tôn tạo lại thành để làm di tích. Người ta phục hồi vài đoạn tường thành, làm lại bốn cổng chính,  Toàn bộ đường dẫn vào di tích và mặt đất bên trong Thành Co được tráng xi mang chừa ô trồng cỏ. Cổ Thành được người dân trong vùng xem là "Đất Tâm Linh" vì nơi đây bất cứ tấc đất nào cũng có bom đạn và máu xương các binh sĩ hai bên. Hiện như là một công viên lớn nhất Thị xã Quảng Trị.

Fire Base Charlie (Đồi Charlie) - Kon Tum 1969/70 - Photo by David Staszak

Đồi Charlie, gọi theo phiên âm Việt là đồi Sạc Ly, là một địa danh nằm tiếp giáp giữa ba huyện Sa Thầy, Đăk Tô và Ngọc Hồi, thuộc tỉnh Kon Tum, Việt Nam. Địa danh này nổi tiếng với nhiều trận giao chiến khốc liệt giữa Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Quân đội Hoa Kỳ với Bộ Đội Bắc Việt như Trận Đắk Tô, 1967, Trận Kontum. Đây cũng là nơi từng được biết đến với nồng độ dioxin rất cao do ảnh hưởng của chất khai hoang mà quân đội Hoa Kỳ từng rải xuống đây nhằm ngăn chặn khả năng ẩn giấu binh lực của Việt Cộng.

Từ trung tâm thành phố Kon Tum theo đường 14 đi khoảng 45 km, tới ngã ba Tân Cảnh, cách địa danh Charlie khoảng 10 km. Vị trí đỉnh đồi Charlie có cao độ xấp xỉ 900m so với mực nước biển, nằm tại khu vực giáp ranh giữa các xã Rờ Kởi (huyện Sa Thầy), PôKô, Tân Cảnh (Đăk Tô) và các xã SaLoong, Đăk Sú (Ngọc Hồi). Hai điểm cao cạnh bên là Ngọc Rinh Rong và Ngọc Rinh Rua, có cao độ là 800m, từng được mệnh danh là "chân cột cờ" của khu vực đồi Charlie.

Do vị trí điêm cao đột xuất, từ đây có thể có vị trí chiến lược có tầm quan sát rộng, đỉnh đồi từng được quân đội Hoa Kỳ và quân lực Việt Nam Cộng Hòa sử dụng để xây dựng một cứ điểm quân sự để kiểm soát cả một vùng rộng lớn ngã ba Đông Dương.

Vị trí cứ điểm nằm trong một dãy cứ điểm liên hoàn của Lữ đoàn 2 Nhảy dù Việt Nam Cộng hòa, được đặt tên theo các chữ cái A, B, C, D... đến Y, nhằm bảo vệ phi trường Phượng Hoàng và tuyến phòng thủ ngoại vi cho căn cứ Tân Cảnh, tức bản doanh bộ Tư lệnh Hành quân Sư đoàn 22 Bộ binh. Theo thông lệ của quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, mỗi cứ điểm đều có tên đặt theo các chữ cái này bằng tiếng Anh và tiếng Việt, như Alfa - Anh Dũng, hoặc Yankee - Yên Thế. Chính vì vậy, cứ điểm trên ngọn đồi được đặt tên theo chữ cái C, được gọi là đồi C (phiên âm Việt là đồi Xê), hay đồi Charlie hoặc đồi Cải Cách.

==Trận đồi Charlie 1972 Bắt đầu Mùa hè đỏ lửa 1972, Bộ Đội Bắc Việt quyết định chiếm Tân Cảnh, cắt Đường 14. Charlie nơi đóng quân của tiểu đoàn 11 nhảy dù Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nằm trên một vòng đai có nhiệm vụ bảo vệ phía trái đường 14.

Tháng 4 năm 1972, Sư đoàn 320 của Việt Cộng bao vây cứ điểm Charlie, tấn công liên tục dữ dội bằng pháo và bộ binh. Ngày 12/04/1972 một trái pháo 130mm, rơi trúng hầm chỉ huy, trung tá Nguyễn Đình Bảo tiểu đoàn trưởng tử trận, thiếu tá Lê Văn Mễ lên thay nắm quyền chỉ huy. Sau 7 ngày không được tiếp tế đạn dược, y tế, lương thực Charlie thất thủ. Khi tiểu đoàn dù vừa rút thì B52 được điều tới Charlie trút bom đạn xuống nhằm tiêu diệt lực lượng Bộ Đội vừa chiếm đóng ở đó. Chỉ vài ngày sau khi Charlie thất thủ, ngày 24 tháng 4 năm 1972, Bộ Đội Cộng Sản chiếm căn cứ Tân Cảnh và Sân bay Phượng Hoàng.

Video Video

Video Westminster City Councils meeting December 2020

Phi Công Trần Thế Vinh - Phi Vụ Cuối Cùng

Đại Úy Phi Công Trần Thế Vinh

Bài viết của Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh

tvvn.org/forum/showthread.php?t=781

Tập sách "Trần Thế Vinh và Phi Vụ Cuối Cùng" (nhà văn Ngọc Thủy suoi_van@yahoo.com) đã mô tả lại sự chiến đấu hào hùng cùng sự hy sinh cao cả của một người phi công dũng cảm của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa trong những năm biến cố lịch sử của đất nước:

Đó là vào đầu mùa hè năm 1972, một mùa hè đỏ lửa đã được ghi lại bằng những chiến tích oai hùng trong quân sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ cuối tháng ba, cộng sản Bắc Việt đã xua quân đợt đầu tiên vào mặt trận Quảng Trị, là thành phố nằm ở địa đầu giới tuyến. Với sự chỉ đạo và viện trợ võ khí của Nga Sô và Trung Cộng, Việt cộng đã mở cuộc xâm lăng miền Nam với một lực lượng quân sự hùng hậu gồm nhiều sư đoàn bộ binh và một sư đoàn pháo yểm trợ.

Để mở đầu chiến dịch Nguyễn Huệ, vào ngày 29-3-72, Việt cộng cho pháo kích dữ dội vào Đông Hà-Quảng Trị và lần đầu tiên địch quân cho xung trận hai trung đoàn chiến xa dùng những chiếc T-54 và PT-76 do các đàn anh Cộng sản Nga-Tàu cung cấp. Việt cộng đã tưởng trong tuần lễ đầu sẽ nuốt trọn được vùng tiền phương của Quân khu I. Nhưng, ngay trong những ngày đầu, địch quân đã gặp sự chống trả mãnh liệt của ta và các cố vấn Nga-Tàu khi chỉ vẽ chiến thuật cho đàn em Việt cộng đã không ngờ đến sự di động nhanh chóng và khả năng yểm trợ không địa của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Truớc tình hình chiến sự khẩn cấp ấy, ngày 1-4-72 phi đoàn 518 thuộc Sư Đoàn 3 Không Quân, từ căn cứ Biên Hoà, đã nhận được lệnh tăng phái cho Sư Đoàn 1 Không quân tại Đà Nẵng.

Trong số hai mươi phi công lái khu trục cơ Skyraider của phi đoàn 518/SĐ 3 KQ, có môt chàng trai trẻ tên là Trần Thế Vinh. Trong phi vụ đầu tiên vào ngày 2-4-72, đại úy Trần Thế Vinh với 8 trái bom dưới cánh chiếc phi cơ AD 6 của anh đã tung hoành đảo lộn giữa vùng trời khói lửa, bất chấp vùng núi non hiểm trở và trần mây thấp ngoài tuyến đầu, cộng thêm vào sự đe dọa của trung đoàn phòng không địch được trang bị hỏa tiễn SAM (Surface-to-Air Missile), bắn lên không ngớt.

Chàng phi công tài hoa và anh dũng đã trổ tài thiện xạ thần sầu, để qua 4 vòng thả bom, triệt hạ được 6 chiến xa giặc. Trong vòng 6 ngày khởi đầu của chiến cuộc, trong 5 phi vụ hiểm nghèo, Trần Thế Vinh đã hạ được 20 chiến xa giặc.

Chiến công lừng lẫy, phá mọi kỷ lục diệt chiến xa của anh, đã được các phóng viên chiến trường không hết lời ca ngợi trên báo chí. Ngày thứ Bẩy 8-4-72, đài Truyền Hình Việt Nam, trong chương trình "Tường Thuật Chiến Trường", đã phỏng vấn thiếu tá Lê Quốc Hùng, phi đoàn trưởng phi đoàn khu trục 518/SĐ 3 KQ, và ông đã hết sức hãnh diện khi nói đến tài năng và tinh thần chiến đấu của các bạn đồng đội và đặc biệt ca ngợi người phi công dũng cảm Trần Thế Vinh, giờ đây đang được báo chí gọi là Anh Hùng Diệt Tăng Địch.

Qua ngày hôm sau, trong phi vụ cuối cùng của quãng đời ngắn ngủi của con người tài hoa và dũng cảm Trần Thế Vinh, mới hai mươi sáu tuổi xuân, anh đã gẫy cánh, và theo tầu xuống lòng đất, sau khi triệt hạ thêm được một chiến xa địch, để lại thương tiếc cho toàn dân miền Nam. Sáng ngày 9-4-72, là ngày anh bay đi vĩnh viễn về cõi vô cùng, Đài Truyền Hình Sàigòn có chương trình tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh, và giọng ngâm bài thơ "Tưởng Niệm Đại Úy Không Quân Trần Thế Vinh" của ca nghệ sĩ Hồng Vân đã làm nhiều người cảm thương và rơi lệ. Những ngày sau, hình ảnh của Trần Thế Vinh, người anh hùng không quân gẫy cánh trên bầu trời Tri.-Thiên đã được phóng lớn và treo trong công viên trước mặt Toà Đô Chính Sài Gòn, để dân chúng đô thành có nơi tưởng niệm người chiến sĩ đã hy sinh cho Tổ Quốc và Không Gian.

 Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh

 *************************

www.nhaccuatui.com/bai-hat/bai-vinh-thang-cho-mot-loai-ch...

 Bài Vinh Thăng Cho Một Loài Chim

 Tác giả: Trầm Tử Thiêng

Tiếng hát: Thái Thanh

 (trích Băng Nhạc Thanh Thúy 11 do Thanh Thúy thực hiện năm 1973)

 ----------

 Chào đón cuộc đời gian nan,

Vinh sinh ra trong thời loạn

từng khóc từng cười bao phen

lênh đênh trôi theo vận tối.

anh vẫn tin có một ngày

bao xích gông bao tù đày

Buồn thua ra đi

tên Thương trở về đây.

 

Đợi giữa một đời … trăm năm

anh em hơn thua … tồi tệ !

Đợi giữa một đời …trăm năm

anh em quên nhau …thật dễ !

Vinh sống non nửa đời người

hoen tuổi xanh hoen nụ cười

Nhiều khi phân vân

người hay ta là người ?

 

Quê hương ta đó

Anh em ta đó

Trần Thế Vinh

gian nan nhiều rồi

anh mơ mai sớm có nắng ấm.

anh mơ mai sớm có hòa bình.

anh mơ non nước …

Tình chứa chan dưới trời bình minh.

 

Một sớm lửa hờn dâng cao

Nung sôi quê hương mùa hạ

Giục cánh đại bàng tung mây

Lao thân trong sương bạc xóa

anh trút bom trên hận thù

anh rải mây đem mịt mù

và anh hiên ngang như chim sắp trời cao.

 

từng phút đợi chờ mong manh

Rưng rưng con tim đồng đội

Lệch cánh đại bàng trong mây

âm u không gian lạc lối

anh đuối tay

buông nặng nề …

Ôi kiếp chim quen bội thề …

một giây bay đi

ngàn năm quên bạn bè !

 

anh lên cao vút

anh lên cao vút

Trần Thế Vinh

Chim Thương về ngàn

anh bay lên cõi có ánh sáng

anh bay lên cõi không hận thù

Anh bay lên mãi

Trần Thế Vinh vĩnh biệt ngàn thu ...

 

Toàn dân ngùi ngùi thương đau,

khi tin chim thiêng lâm nạn.

Toàn dân ngậm ngùi thương đau,

khi tin chim thiêng về tổ.

anh vắng bay trên trời này

nhưng bóng anh sáng ngời hoài

Từ trong tim tôi muôn năm không mờ phai.

 

Còn thương tình người hôm qua

Xin anh cho tôi cầu nguyện

Còn xót tình người hôm qua

Xin anh cho tôi lời khấn

 

Đêm lúc trăng sao ngời ngời

Tôi ngước cao lên bầu trời

Gọi to lên câu Việt Nam ơi muôn đời!

 

Quê hương anh đó

Quê hương tôi đó

Trần Thế Vinh

Anh kêu gọi người

Sao cho mai sớm dưới nắng ấm

Anh em Nam Bắc nguôi hận thù

Tay đón tay nắm

Cùng hát vang dưới trời Việt Nam!

Quảng Trị Tháng Tư 1972 - Mùa Hè Đỏ Lửa

Quảng Trị, tháng4/1972 - Mùa hè đỏ lửa
Đoàn quân tiến về giải phóng TP Quảng Trị. 
Mẹ già gánh cả gia tài của mẹ về vùng Quốc gia.
 
View of a female civilian refugee fleeing for safety along a road as South Vietnamese troops march towards fighting that has overtaken the South Vietnamese city of Quang Tri during the 1972 Easter Offensive campaign in the Vietnam war in April 1972. 
(Photo by Rolls Press/Popperfoto/Getty Images)

Thursday, July 22, 2021

Chuyến xe tháng 5 (Kỳ 1) - Vương Mộng Long -

 

Lời giới thiệu: 

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Ðời tôi đã có một tháng 5 tràn đầy hạnh phúc, đó là tháng 5 năm 1969. Vào một ngày đẹp trời giữa tháng 5 này, ở Ban Mê Thuột, tôi đã gặp được người trong mộng ước của mình. Người con gái tôi gặp ngày đó đã thành người tôi yêu suốt đời. Người đó đã trở thành mẹ của 4 đứa con tôi, đã thành bà của 5 đứa cháu tôi. Hơn thế nữa, người đó, với tôi còn là một người vợ chung thủy, đồng thời là một người bạn tri kỷ không ai thay thế được.

Tóm lại, từ lâu lắm rồi, tháng 5, với tôi đã trở thành một tháng thần tiên, trừ ra một tháng 5 thật là đáng ghét, nhưng tôi cũng không thể nào quên nó được, đó là tháng 5 năm 1975.

Tôi đã sống qua những ngày đau thương của cái tháng 5 năm ấy, đã bị giằng co bởi những quyết định sống còn của cuộc đời mình, đã xuôi tay chấp nhận cái chết, và đã chứng kiến những cảnh chia ly não lòng.

Tháng 5 năm 1975 trên toàn cõi Việt-Nam không còn tiếng súng giao tranh, nhưng có những người đi không thấy về.

Sáng 1 tháng 5 năm 1975 tôi lang thang trong vùng Ngã Bảy Chợ-Lớn, trên đường tìm về nhà mẹ tôi.

Ngày hôm trước đơn vị của tôi đã bị đánh tan. Ðêm qua, sau khi trốn thoát một cuộc truy sát của kẻ thù, tôi vào tá túc trong nhà một người quen nằm trên đường An-Bình, Chợ Lớn.

Tới trưa 1 tháng 5 tôi mới về tới nhà. Vậy mà chỉ vài giờ sau đã có lệnh kêu tôi sáng mai phải có mặt ở văn phòng liên gia trưởng khu phố để khai báo lý lịch.

Sáng 2 tháng 5 năm 1975, tôi rời nhà ra chợ tìm tới văn phòng liên gia trưởng. Văn phòng liên gia là một căn nhà nhỏ vách phên, lợp tranh, nằm sát bên một hiệu tạp hóa lớn của người Hoa.

Lúc tôi tới văn phòng thì đã có vài vị cựu sĩ quan Quân- Lực Việt- Nam Cộng- Hòa hiện diện ở đây rồi. Những vị này là người cư trú trong liên gia này. Họ và ông liên gia trưởng có vẻ không lạ lẫm gì nhau.

Hình như chỉ có mình tôi là người xứ khác, không phải là dân Sài-Gòn. Vì đơn vị tôi bị tan hàng, nên tôi mới phải chạy về tá túc ở đây.

Nghe các ông sĩ quan nói chuyện, tôi được biết ông đứng ghi danh trước tôi là một trung úy An-Ninh Quân-Ðội, nhà ông này ở ngay đầu hẻm và cách nhà mẹ tôi chừng năm, sáu căn. Bên cạnh tôi là ông đại úy Không Quân ở cách nhà tôi ba căn. Sau lưng tôi là ông chủ tiệm gạo bên kia đường, ông này là đại úy sĩ quan Công Binh.

Ông liên gia trưởng khu phố TK9 phường Nguyễn Cảnh Chân mà mẹ tôi cư trú là bác Thọ. Nhà của bác Thọ cách nhà mẹ tôi một con hẻm nhỏ.

Vì là hàng xóm, hôm qua bác Thọ đã chứng kiến cảnh mẹ tôi khóc sướt mướt khi tôi bước vào nhà, nên vừa nhìn thấy mặt tôi, bác đã niềm nở,

– Bác có nghe má cháu nói cháu đi lính ngoài Miền Trung. Chắc cháu mới chạy về phải không? Cháu mau xưng tên họ để bác ghi vào sổ. Cháu là lính Ðịa Phương Quân phải không? Cháu là trung sĩ chứ gì? Cháu chỉ cần khai vắn tắt thôi! Quan trọng nhất là cái địa chỉ tạm trú phải khai cho đúng! Nếu Cách Mạng có lệnh gì thì bác cứ theo địa chỉ mà thông báo cho cháu.

– Thưa bác, bác ghi tên cháu là Vương Mộng Long, nhưng cháu không phải là trung sĩ…

Tôi nói chưa hết câu, “cháu không phải là trung sĩ mà là thiếu tá…” thì bác Thọ đã lớn tiếng phán một cách chắc chắn như đinh đóng cột,

– Cháu và thằng con bà hàng xóm nhà cháu ngang tuổi, ngang lớp với nhau, nó khai là trung sĩ thì cháu cũng là trung sĩ thôi, không thể khai là binh nhất hay binh nhì được đâu! Tội gian khai là nặng lắm đó!

Hai ông sĩ quan đứng bên tôi cũng gục gục đầu khuyên:

“Trung sĩ thì cứ khai là trung sĩ, có gì đâu mà phải sợ? Khai man hay giấu giếm cách gì thì người ta cũng phát giác ra thôi!”

Bác Thọ hất hàm ra lệnh cho anh thư ký,

– Số thứ tự 25 là Vương Mộng Long, cấp bậc trung sĩ Ðịa Phương Quân, địa chỉ TK9…

Tôi chưa kịp phản đối thì bác Thọ gọi người tiếp theo, đó là ông chủ tiệm gạo. Ông sĩ quan Công Binh này là một người cao to như một vị hộ pháp. Ông ta vừa bước lên là tôi bị văng sang bên ngay.

Trong lúc ông đại úy khai tên và đơn vị thì tôi thấy nơi cuối hàng có một bàn tay ai đó giơ lên vẫy gọi mình,

– Long! Long ơi! 

Tôi giơ tay vẫy lại,

 Chờ chút! Chờ chút

Rồi tôi sấn tới trước bàn giấy, cầm tay bác Thọ,

– Cháu có việc phải đi ngay! Yêu cầu bác đính chính lại số thứ tự 25 Vương Mộng Long là thiếu tá Biệt Ðộng Quân, không phải trung sĩ Ðịa Phương Quân!

Ông liên gia trưởng ngớ người ra,

– Cháu không nói đùa đấy chứ! Xóm mình từ xưa tới giờ làm gì có ai là sĩ quan cấp tá!

Tôi nghiêm mặt,

– Cháu nói thật đấy! 

Ông đại úy chủ tiệm gạo nheo mắt nhìn tôi rồi buột miệng,

– Ðù mạ! Giờ này mà còn hám danh! Khoa trương! Làm oai!

Chắc ông đại úy nghĩ tôi chỉ là một anh trung sĩ hám danh, man khai thành thiếu tá để lấy le nên ông ta lớn tiếng chửi thề cho bõ ghét.

Mấy vị sĩ quan đứng gần đó cũng cau mày, nhăn mặt tỏ vẻ khó chịu và khinh bỉ.

Có lẽ vì thấy tôi có vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, lại ăn mặc không được chững chạc lắm, nên bà con cho rằng tôi chỉ là một hạ sĩ quan nhưng thích làm oai.

Chờ cho anh thư ký điều chỉnh xong lời khai báo của tôi, tôi chui ra khỏi đám đông để gặp người vừa vẫy tay gọi tên mình.

Thì ra đó là ông Thiếu tá Lương Ðình Chi, cựu Trưởng ty Cảnh-Sát Bà-Rịa, một người bạn vong niên của tôi. Nhà ông ta ở bên kia đường, ngay góc Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Biểu. Ông Chi vô tình ghé đây. Nhìn thấy tôi trong đám đông, nên ông ta giơ tay vẫy gọi. Ông ta cũng vừa tới văn phòng liên gia trưởng của ông để khai báo.

Ðâu ngờ, cái chuyện khai báo lý lịch xem ra thật đơn giản và không có gì đáng lo ngại, vậy mà nó che đậy một cái bẫy sập ghê gớm.

Chỉ với cái tên, cấp bậc và đơn vị mà chúng tôi khai với ông liên gia trưởng, đã đủ để những người Cộng-Sản có thể phát hiện ra những kẻ thù mà chúng cần truy cứu.

Chỉ ít bữa sau, một Thượng tá Trung đoàn trưởng của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã tới gõ cửa nhà tôi để thăm tôi.

Tôi và ông ta đã từng có vài lần đối đầu qua những trận đánh đẫm máu năm 1974 ở Tây Nguyên.

Cũng từ cái chuyện khai báo lý lịch mà chưa tới mười ngày kế đó, sáng 11 tháng 5 năm 1975, tôi đã trở thành một tù binh.

Mười ba năm sau, trên cái giấy ra trại của tôi đã ghi rõ ràng rằng: Ðương sự bị bắt ngày 11 tháng 5 năm 1975.

Hôm đó, tôi bị gọi lên văn phòng liên gia trưởng. Bác Thọ nhìn tôi ái ngại,

– Phường Nguyễn Cảnh Chân vừa nhận được lệnh nội nhật ngày 11 tháng 5 năm 1975 phải áp giải tên Vương Mộng Long lên giao nộp cho Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Gia-Ðịnh.

Văn phòng phường không có xe, nên bác Thọ ra lệnh cho anh thư ký của liên gia chở tôi đi bằng xe gắn máy.

Tới Trại Lê Văn Duyệt của Biệt Khu Thủ Ðô, nay là trụ sở Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Gia-Ðịnh của Việt-Cộng, tôi xuống xe rồi tự động đứng lẫn vào đám người đang tụ tập trước sân cờ.

Hôm đó, có khoảng vài trăm quân nhân viên chức Việt-Nam Cộng-Hòa bị tập trung về từ nhiều nơi quanh Sài-Gòn. Họ được chở trên những quân xa đủ loại. Người xuống hết, xe chạy đi, nối đuôi nhau. Chỉ có mình tôi tới đây bằng xe hai bánh do người khác cho quá giang.

Trong số những người hiện diện trong sân, tôi thấy Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, Chuẩn tướng Lê Trung Tường và mấy vị tướng khác, cùng vài người quen của tôi như Trung tá Nguyễn Hiệp, Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước, Thiếu tá Hồ Văn Hòa, Thiếu tá Lương Ðình Chi, và Trung sĩ Thông Dịch Viên người Hoa là Huỳnh Cẩm Lường.

Chúng tôi đứng trước sân chờ nghe cái loa treo trên cột cờ kêu tên mình để vào trình diện một trong số những căn phòng đánh số thứ tự A, B, C, D…X, Y, Z… nằm ở tầng trệt của dãy nhà lầu phía sau.

Tôi được gọi tên để vào làm việc trong căn phòng nơi cửa có cái bảng carton cỡ 40X40 cm ghi chữ «Z” thật to bằng sơn đen, nằm ở đầu hồi.  Phòng có cái bảng chữ «Z» là nơi tiếp quản của Quân Khu 5 Cộng-Sản. Quân Khu 5 Cộng-Sản bao gồm lãnh thổ các tỉnh từ Quảng-Trị tới Phú-Yên. (Chữ Z= phát âm là Zét)

Văn phòng này do bốn cán binh Việt-Cộng phụ trách. Bốn tên cán binh này mặc quân phục xanh, không đeo phù hiệu hay quân hàm, và cũng không vũ trang.

Có khoảng trên dưới hai chục người được gọi vào phòng Z. Mỗi người được phát một tờ giấy in roneo gọi là bản tự khai, chỉ có mấy dòng:

1) Họ tên

2) Cấp bậc, chức vụ

3) Ðơn vị và nơi đồn trú.

4) Thời gian phục vụ ở địa bàn Quân Khu 5 từ năm nào tới năm nào?

5) Ðịa chỉ cư trú và liên lạc hiện nay

Dưới đó là ngày tháng và ký tên.

Công việc ghi chép những câu trả lời 5 mục nêu trên và ký tên diễn ra không tới một giờ.

Tiếp theo là giai đoạn khẩu vấn, công việc này cũng chỉ nhằm mục đích xác nhận xem chúng tôi có đúng là người mà Quân Khu 5 cần tiếp quản hay không.

Từng người trong chúng tôi phải lần lượt đối diện với bốn thẩm vấn viên để trả lời những câu hỏi liên quan tới từng đề tài khác nhau như quê quán, tôn giáo và gia cảnh.

Kết thúc buổi thẩm vấn, tên cán bộ trưởng toán xoa tay cười khẩy, rồi đẩy mấy tờ giấy ghi lời khai của tôi ra trước mặt tôi,

– Ðược rồi! Anh đọc lại đi! Có gì cần sửa thì trình cho tôi. Tôi có cho phép anh thì anh mới được sửa. Nghe rõ chưa?

Tôi liếc qua những dòng chữ đã ghi trên bản tự khai rồi lắc đầu,

– Tôi không muốn sửa chữa điều gì cả.

Nghe vậy, tên Việt-Cộng vội xếp tờ giấy tự khai của tôi vào cái bìa cứng rồi đưa tay ra cho tôi bắt,

– Anh có thể đi về, nhớ đúng 8 giờ sáng mai lại vào đây trình diện!

Ra khỏi phòng, tôi đi một vòng quanh trại để tìm người quen, thì được tin Trung tá Nguyễn Hiệp, Thiếu tá Hồ Văn Hòa, Thiếu tá Lương Ðình Chi, đã bị còng tay chở đi rồi.

Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước và ông Thông Dịch Viên người Hoa là Huỳnh Cẩm Lường còn ở trong phòng nào đó chưa ra.

Sáng 12 tháng 5 tôi leo lên Honda chạy một lèo tới Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Gia-Ðịnh.

Gửi xe xong, tôi bước vào trại để tới phòng Z; đã có nhiều quân nhân khác nhanh chân hơn tôi; họ có mặt trong sân doanh trại từ sáng sớm.

Vào phòng, tôi mới hay, sau buổi thanh lọc ngày hôm qua đã có nhiều người được trả tự do vì lời khai của họ không phù hợp những chi tiết mà Quân Khu 5 đã nêu ra.

Hôm nay, trong phòng Z chỉ còn lại đúng bảy (7) người.

Chúng tôi không phải khai báo gì hơn, chỉ ngồi tán gẫu với nhau thôi.

Những cán binh phụ trách công việc tiếp quản chúng tôi cũng vui vẻ nói chuyện với chúng tôi không chút ngại ngùng. Qua vài câu trao đổi, chuyện trò, tôi được biết, hai trong số bốn cán bộ Cộng-Sản này là người Thanh-Hóa, một là dân Hà Nam Ninh, một là dân Hải-Hưng (tỉnh Hải Hưng là tên do hai tỉnh sáp nhập Hải Dương và Hưng Yên) Biết tôi là dân Hải Dương nên người bộ đội Cộng-Sản quê Hải-Hưng hay nhìn tôi với vẻ mặt nửa lưu luyến, nửa ái ngại và khó hiểu.

Buổi trưa chúng tôi được phép túa ra đường kiếm cơm cháo, mì, phở, một giờ sau sẽ quay trở lại.

Bên kia đường là một dãy quán hàng bán đồ ăn. Thấy một ông từ phòng Z dẫn theo vài ông khác chui vào một cái lều bên đường, tôi cũng chui vào theo.

Trong lều là một gánh cháo lòng do một bà tuổi trung niên làm chủ.  Chúng tôi theo nhau, bảy người, ngồi trên hai cái ghế dài của học trò.

Chỉ qua mấy phút tâm sự, tôi đã biết lý lịch của sáu ông bạn mới. Sáu ông này gồm có một Thiếu úy Trung đội trưởng Thám Báo Tỉnh, một thẩm vấn viên của Trung Tâm Thẩm Vấn Quân Ðoàn II, hai ông sĩ quan Ban 2 Chi Khu, một Trưởng Lưới Mật Báo Viên và một nhân viên phản gián của Ủy Ban Phượng Hoàng.

Ông chồng bà bán quán là Trung sĩ Trưởng Lưới Mật Báo Viên của Tiểu Khu Bình-Ðịnh tên là Huỳnh Thanh Bền. Ông Trung sĩ Bền là một hạ sĩ quan Ðồng Hóa.

Từ ngày thứ ba, tôi không còn phải tốn tiền gửi xe Honda, tôi khóa xe, rồi để xe ngay vách quán của bà vợ ông Bền.

Trung sĩ Bền lớn hơn tôi mười tuổi, vợ ông cũng lớn hơn tôi bảy tuổi. Anh chị Bền có ba đứa con, cháu lớn là con gái 19 tuổi, đang học Sư Phạm, hai đứa kế tuổi 15 và 13 đang học trung học.

Nhà anh chị Bền ở gần Quân-Lao Gò-Vấp.

(còn tiếp)

Chuyến xe tháng 5 (kỳ 2) - Vương Mộng Long -

Lời giới thiệu: 

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Anh chị Bền là người Nam chính gốc, còn tôi lại là dân Bắc (Di Cư) chính gốc; vậy mà chỉ qua vài ngày sơ giao chúng tôi đã thấy thân thiết nhau.

Vợ chồng Trung sĩ Bền coi tôi như em, ba đứa con của anh chị Bền thì gọi tôi là “Chú Long”

Ngoài tên ông Bền ra, tới nay tôi chỉ còn nhớ, ông Thiếu úy Thám Báo tên là Bổn, một ông sĩ quan Ban 2 chi khu tên Nghĩa, ông phản gián tên Phụng; tên của hai người còn lại thì tôi quên mất rồi.

Những ngày sau đó cũng có vài người tới trình diện phòng Z, nhưng chỉ qua vài chục phút tiếp xúc thẩm vấn là họ được cho về. Quân số phòng Z hầu như cố định 7 người. Chúng tôi cứ 8 giờ sáng có mặt, cùng nhau tán gẫu, 6 giờ chiều lại chia tay, sau khi nghe một hồi kẻng báo giờ phát đi từ giữa sân cờ.

Hàng ngày, nhân dịp đi loanh quanh trong sân, tôi được biết những phòng đánh số khác cũng là chỗ quy tụ những quân nhân đặc biệt được gọi về chờ các cơ quan quân sự địa phương tới tiếp nhận.

Sau vài bữa, đã có nhiều bảng 40X40 cm được tháo gỡ, chỉ còn lác đác vài phòng là còn người đi vào, đi ra.  Chắc những người bị gọi tập trung thanh lọc trong những phòng bỏ trống đó đã được các cơ quan quân sự địa phương đem đi hết rồi.

Một hôm tôi đang trên đường từ nhà vệ sinh công cộng trở về phòng Z thì thấy tên cán binh người Hải Hưng đang đứng chờ tôi dưới một gốc phượng đầy xác hoa.

Y ngoắc tay ra dấu cho tôi đi ra đằng sau dãy nhà ngang. Mắt y đảo quanh một cái thật nhanh rồi nhỏ giọng, vừa đủ cho tôi nghe:  

“Anh Long à! Nếu anh mà bị đưa về Quân Khu 5 thì khó toàn mạng đó! Có trốn được thì trốn đi! Cố gắng kín miệng, đừng cho ai biết tôi đã nói với anh điều này!”

Tôi chưa mở miệng nói được tiếng nào thì y đã hấp tấp phẩy tay đuổi tôi đi.

Suốt ngày hôm đó tôi cứ băn khoăn suy nghĩ. Cứ theo lời tên cán binh này thì chắc chắn tôi nằm trong số những nhân vật đặc biệt mà Quân Khu 5 Cộng-Sản nhắm vào.

Chắc chắn tình trạng của tôi và những anh bạn cùng phòng sẽ lành ít dữ nhiều trong những ngày sắp tới.

Tối đó, về tới nhà, nhìn thấy 3 đứa con nheo nhóc, đứa lớn nhất mới 3 tuổi rưỡi, đứa thứ nhì 2 tuổi rưỡi, đứa thứ ba vừa chập chững biết đi, vợ tôi lại đang mang bầu sắp tới ngày sinh, tôi không dám nghĩ tới chuyện bỏ vợ con mà đi trốn.

Ngày Ban Mê Thuột thất thủ tôi những tưởng vợ chồng tôi sẽ chẳng còn gặp lại nhau. Trong những ngày khói lửa ở Ban Mê Thuột, một quả bom từ máy bay thả xuống giữa phố, đứa con gái lớn của tôi đã bị một mảnh bom ghim vào cánh tay. Hơn hai tháng nay vết thương trên tay con tôi còn đau, mảnh bom còn nằm trong cánh tay nó. Nay mẹ tôi vừa đón được vợ tôi và 3 đứa bé về Sài-Gòn chưa được mấy ngày, tôi đã bị cấm túc.

Suy đi, tính lại, dù gì thì hiện giờ đêm đêm tôi vẫn nhìn thấy vợ thấy con, còn hạnh phúc.

Thôi đành kệ! Ai sao mình vậy! Ngày mai muốn ra sao thì ra!

Tuy thế, trong thâm tâm, tôi vẫn lo lắng không yên.

Tôi cũng không dám chia sẻ những gì mà tên cán bộ Việt-Cộng đã tiết lộ cho tôi, vì thời buổi này tôi không tin ai, lỡ mình phơi bày tâm tư cho người ta biết, người ta quay sang phản mình, đi tố cáo mình để lập công thì mình chết chắc.

Tuy vậy, tôi thấy trong hoàn cảnh này, chính tôi và những người đồng cảnh của tôi cũng rất cần những sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau.

Trưa hôm sau, vào giờ ăn trưa, trong quán cháo của bà Bền, tôi đứng lên hỏi ý mấy ông bạn cùng phòng,

– Các bác ơi! Nếu bất ngờ tụi mình bị đưa đi chỗ khác thì các bác có cách gì báo tin cho gia đình biết?

Vừa nghe tôi hỏi, ông Huỳnh Thanh Bền đã nói ngay,

– Các ông cứ chuẩn bị sẵn một lá thư có địa chỉ gia đình rồi giao cho bà xã tôi cất. Ngày nào mình bị bốc đi thì nhà tôi sẽ chuyển thư của quý vị tới tận nhà để thân nhân quý vị biết mình đã đi khỏi đây rồi.

Anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh bổ sung thêm,

–  Tôi có ý kiến là các ông nên viết sẵn một lá thư mở đầu với câu: Nhờ ai nhặt được thư này thì ghi giùm địa danh nơi thư này rơi, rồi gửi nó về địa chỉ của gia đình tôi ở địa chỉ sau đây…Ða tạ! 

Sau đó các ông cuốn lá thư trong một tờ giấy bạc 500. Tới địa điểm mới thì mình đánh rơi thư này. Thấy tiền, người ta sẽ lượm, rồi có thể, người ta sẽ giúp gửi thư đi cho mình, gia đình mình sẽ biết mình bị đưa đến đâu.

Tôi nghĩ thầm:

Công nhận ông Bổn Răng Vàng này đa mưu thật!”

Anh chàng Thiếu úy Bổn là người ăn nói rất lưu loát, miệng anh ta lại có cái răng nanh bịt vàng, quen nhau rồi, tôi cứ gọi anh ấy là “Bổn Răng Vàng”.

Thế là sáng hôm sau trước giờ chúng tôi trình diện ở phòng Z thì trong túi bà vợ ông Huỳnh Thanh Bền đã có 6 lá thư nhắn tin, và trong túi của 7 anh em trong phòng Z đều có sẵn một cuộn giấy tròn như cái pháo tép, bên ngoài lá thư được bao bởi tờ giấy bạc 500 đồng do Ngân Hàng Quốc Gia Việt-Nam phát hành.

Một buổi chiều giữa tháng 5, tôi vừa mở khóa chiếc Honda chuẩn bị đi về thì một người khách qua đường dừng chân bên quán cháo lòng,

– Ðại ca! Ðại ca!

Tôi quay mặt lại, nhận ra ngay người vừa gọi mình là ông Trung úy Ðại đội trưởng một Ðại Ðội Ðịa Phương Quân của tỉnh Bình-Long. Suốt trận Xuân-Lộc tháng 4 năm 1975, đơn vị Ðịa Phương Quân của ông này đã nằm dưới quyền chỉ huy của tôi. Tôi và ông trung úy này chia tay nhau chiều 23 tháng 4 tại căn cứ Long-Bình.

Ông trung úy người Cái Sắn nắm tay tôi thật chặt,

– Em đi kiếm đại ca cả tuần nay. May quá giờ gặp rồi! Gặp rồi!

Tôi cũng cảm động,

– Chú bình an chứ? Ði đâu đây? Kiếm anh làm gì vậy?

Người đàn em ghé tai tôi thì thầm,

– Ðại ca ơi! Về Cái Sắn với em! Ba ngày nữa tụi mình sẽ vượt qua Cao Miên rồi trốn sang Thái Lan. Em có đường dây đưa đi an toàn trăm phần trăm. Ðại ca đi với em nhé! Gia đình em sẽ trang trải hết mọi phí tổn cho anh em mình!

Thật bất ngờ, nhưng tôi vẫn còn tỉnh trí. Tôi buồn rầu nói,

– Anh không đi được! Tình cảnh gia đình của anh không cho phép! Chú đi một mình đi! Chúc chú thượng lộ bình an! 

Từ ấy tôi không rõ người anh em này phiêu dạt nơi đâu. Tôi luôn cầu mong cho chú ấy luôn luôn gặp những điều may mắn.

Vậy là, trong khoảng thời gian không đầy nửa tháng sau chiến tranh tôi đã có những cơ duyên được bạn bè và cả người phía bên kia giúp đỡ. Nhưng tôi đã không dám hành động để tự cứu mình. Thời gian này, hầu như tôi đã xuôi tay, nhìn cái thòng lọng cứ từ từ siết chặt dần quanh cổ mình.

Thế rồi…

Sáng 20 tháng 5 tôi vòng xe sang đường Lê Thánh Tôn để mua một ổ bánh mì thịt, rồi chạy thẳng lên Tòa Ðô Chánh để cho anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh quá giang. Nhà anh này ở trong con hẻm cách Toà Ðô Chánh chừng một trăm thước. Anh này không có xe, cả tuần lễ nay anh ta phải tới Trại Lê Văn Duyệt bằng hai chặng xe Lamb chuyển tiếp.

Ba tuần lễ sau ngày Miền Nam sụp đổ, Tòa Ðô Chánh Thủ Ðô Sài-Gòn đã có bộ mặt mới, với lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam to tổ bố cùng toán bộ đội nón cối, dép râu ôm súng AK47 gác trước cổng.

Tới cổng Tòa Ðô Chánh, tôi giảm ga cho xe chạy từ từ theo bảng chỉ đường giới hạn 5 Km/ Giờ.

Ðoàng! Ðoàng! Ðoàng!”

bất thình lình, một tên bộ đội Việt-Cộng từ hiên Tòa Ðô Chánh nhảy ra giữa phố.

Tên Việt-Cộng này có lẽ là sĩ quan, vì bên hông y có đeo một cái cặp da tòn ten.

Y giơ một tay chận xe tôi lại, tay kia giương cao khẩu K54 bắn ba phát chỉ thiên, miệng la,

– Ðứng lại! Ðứng lại!

Chẳng hiểu chuyện gì, tôi vội răm rắp tuân lệnh của người cầm súng, tấp xe vào lề đường, thắng lại.

Thằng Việt-Cộng chĩa súng ngay đầu tôi, rồi nhảy lên, ngồi trên yên sau, miệng y hét lớn,

– Anh khẩn trương chở tôi lên Bộ Tổng Tham Mưu Ngụy! Nhanh lên! Nhanh lên!

Tôi im lìm nhấn chân sang số, xe đi tới.

Chạy được vài chục thước, tôi thấy trước mặt, bên đường, là anh bạn Bổn Răng Vàng, Thám Báo Tỉnh. Tôi đạp thắng cho xe chạy chậm lại, thì thằng Việt-Cộng hét to,

– Ði! Ði! Cấm dừng!

Thấy một thằng Việt-Cộng vừa kê súng vào đầu tôi, vừa la hét oang oang, ông Thiếu úy Thám Báo Tỉnh cũng hoảng hồn, vội vàng bước thối lui vào lề đường.

Thế là tôi phải vặn tay tăng ga cho chiếc Honda vọt lên. Bạn tôi đứng ngẩn người nhìn theo.

Tôi đâu có biết đường nào lên Tổng Tham Mưu? Tôi cứ chạy vòng vo trong khu Yên Ðổ, Hai Bà Trưng hoài.

Thấy thế, thằng Việt-Cộng lớn tiếng ra lệnh,

– Anh chạy theo lệnh tôi! Chạy thẳng! Rẽ phải! Rẽ trái! Chạy thẳng! Rẽ phải! … 

Xe qua cầu Trương Minh Giảng một lúc lâu mới tới Bộ Tổng Tham Mưu…

“Kia rồi! Dừng lại!”

image.png
Vương Mộng Long và Mẹ tháng 4 năm 1993

Hóa ra một thằng Việt-Cộng vừa ra khỏi rừng mấy ngày mà đã thông thuộc đường sá Sài-Gòn hơn một thiếu tá tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân Vùng 2 của Việt-Nam Cộng-Hòa!

Tới cổng sau của Bộ Tổng Tham Mưu, tôi tưởng mình thoát nạn, nào ngờ,

– Anh đỗ xe ở đây! Không được thoái bộ! Chờ tôi họp xong, tôi sẽ quay ra! Nghe rõ chưa?

Y chỉ chỗ cho tôi tắt máy và đậu xe sát vọng gác bên hông của Bộ Tổng Tham Mưu rồi ra lệnh cho mấy tên bộ đội trong điếm canh,

– Tôi giao cho các đồng chí nhiệm vụ quản chế anh này! Giữ anh ta tại đây cho tới khi hội họp xong tôi sẽ trở ra. Nếu anh ta thoái bộ thì các đồng chí cứ việc bắn! Ðừng bắn chết là được! Cứ bắn gãy chân thôi! Nghe rõ chưa?

Tôi ngồi xuống bờ cỏ bên vọng gác, móc túi lấy điếu thuốc Ruby ra hút đốt thời giờ. Tôi hút tới điếu thuốc thứ ba mà tên cán binh Việt-Cộng vẫn chưa ra. Ðã tới 8 giờ, giờ điểm danh của ban tiếp quản Quân Khu 5, mà tên Việt-Cộng vẫn chưa ra.

Tôi mon men tới bên vọng gác,

– Anh bộ đội ơi! Ðã tới giờ tôi phải có mặt ở Ủy Ban Quân Quản Thành Phố, tôi có thể đi được không? 

“Crách! Crách!” cùng với tiếng lên cò súng là khẩu lệnh,

– Ngồi xuống đó! Cấm di chuyển! Anh mà bước khỏi đây một bước là tôi bắn!

Thế là tôi đành ngồi xuống.

Tôi dự trù nếu thằng cán binh ác ôn mà trở ra, tôi sẽ đòi nó ký cho tôi tờ giấy chứng nhận lý do vì sao tôi tới phòng Z trình diện trễ.

Thoáng chốc mặt trời đã tới đỉnh đầu. Sài-Gòn tháng Năm trời vừa nắng cháy da, vừa ẩm ướt hầm hầm như đang trông chờ những cơn mưa bóng mây.

Gặm xong ổ bánh mì thịt, tôi thấy cổ khô ran, khát nước. Tôi lại mon men tới bên vọng gác,

– Anh bộ đội ơi! Tôi xin phép đi sang bên kia đường để mua nước uống có được không?

– Ngồi xuống đó! Ði là tôi bắn! Không có nước nôi gì hết! Nghe rõ chưa?

Tới hai giờ chiều thì bụng tôi căng như cái trống, tôi lại mon men tới bên vọng gác,

– Anh bộ đội ơi! Tôi xin phép vào nhà xí của trại để đi tiểu tiện có được không?

– Cần gì phải vào nhà xí! Anh cứ ngồi xuống vạch cu ra mà đái! Không ai thèm nhìn anh đái đâu!

Cố nín thêm chừng một giờ sau nữa, tôi cũng đành phải mở nút quần. Tôi nhắm mắt, đái đại ngay trên lề cỏ bên đường.

Ðồng hồ tay của tôi chỉ đúng 4 giờ chiều thì tên cán bộ mới xuất hiện. Vừa phóng lên yên sau, y đã hối,

– Khẩn trương lên! Họp hành gì mà lâu quá! Tôi đói lắm rồi! Anh mau mau chở tôi về lại Tòa Ðô Chánh! Mau lên! Mau lên!

Trên đường về, thằng Việt-Cộng không còn kê súng lên đầu tôi nữa.

Vì đã biết đường đi, nên lúc về tôi không bị lạc. Tới cổng Tòa Ðô Chánh tên cán bộ xuống xe, rồi mở cái cặp da,

– Anh tính tiền xe ôm thuê bao cả ngày hôm nay là bao nhiêu? Tôi sẽ trả cho anh! Anh làm việc có lương tâm lắm! Tôi tuyên dương anh đấy!

Thì ra thằng Việt-Cộng này tưởng lầm tôi là một anh chạy xe ôm! Tôi nói,

– Anh nhầm rồi! Tôi không phải xe ôm! Nhưng thôi! Anh không cần trả tiền tôi, mà hãy ký cho tôi cái giấy chứng nhận rằng anh đã trưng dụng tôi chạy xe đưa anh đi công tác suốt ngày nay để tôi xuất trình cho Ủy Ban Quân Quản Thành Phố. 

Nghe tôi nói, tên cán bộ hơi ngẩn người ra một giây, rồi nhẹ giọng,

– Vậy thì xin lỗi anh nhé! Ðược rồi! Tôi sẽ ký giấy làm chứng cho anh.

Nói xong, y mở cái cặp da, rút ra một quyển sổ công lệnh của Quân Khu 7, tờ nào cũng có con dấu đỏ chót.

Y xé một tờ rồi ghi trên đó mấy chữ:

“Chứng nhận đã sử dụng nhân công này từ 8 giờ sáng tới 5 giờ chiều ngày 20 tháng 5 năm 1975” 

Y ký tên rồi đưa tờ công lệnh cho tôi,

– Ði đi! Yên chí sẽ không có ai làm khó dễ anh đâu!

Quá 5 giờ chiều tôi mới tới cái lều bán cháo lòng của chị Bền. Thấy tôi, chị Bền lo lắng hỏi,

– Ủa! Sao giờ này chú mới tới? Trưa nay anh Bền và mấy ông phòng “ZÉT” không ra ăn cơm. Chú vào trong đó xem có gì lạ thì ra báo cho chị hay.

Tôi khóa xe rồi đi vào trại. Khu doanh trại của bộ đội vẫn sinh hoạt bình thường. Dãy nhà ngang là khu tiếp quản chỉ còn một phòng Y là có người. Phòng Z cửa cũng mở toang, cái bảng carton 40X40 cm có chữ “Z” đã bị gỡ bỏ, trong phòng không thấy bóng dáng ai.

(còn tiếp)

TỔNG LƯỢC VỀ TRẬN ĐÁNH TÁI CHIẾM CỔ THÀNH QUẢNG TRỊ Chu Tất Tiến.

Tháng 12, năm 2020, một nhóm người trẻ thuộc thế hệ thứ 2 đã xin được sự đồng thuận 5/5 của thành phố Westminster cho phép xây dựng Tượng Đà...