Thursday, July 22, 2021

Chuyến xe tháng 5 (kỳ 3) - Vương Mộng Long

Lời giới thiệu: 

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Tôi ghé phòng Y hỏi thăm một người đàn bà đang ngồi trước cửa,

– Chị ơi! Chị làm gì ở đây? Sao hôm nay phòng nào cũng trống không vậy chị? Bà con đi đâu hết rồi?

Người nữ quân nhân (hay công chức) trả lời,

– Tôi nhân viên của Ty Cảnh Sát tỉnh Bình-Thuận bị tập trung ở phòng Y. Hôm nay xe đã tới chở các ông, các ở mấy phòng khác đi sạch trơn. Cán bộ canh gác cũng lên xe đi hết, chỉ bốn người của Quân Khu 6 chúng tôi còn ở đây thôi anh ơi!

– Mấy người ở phòng “Zét” đi lúc nào vậy chị?

– Mấy ông phòng “Zét” tập trung từ sáng sớm, mãi tới hơn 3 giờ chiều họ mới bị còng tay đưa lên xe, chẳng biết đi đâu.

Phòng Y và phòng Z ở sát vách nhau, vậy mà cả tuần lễ sau tôi mới biết phòng Y chứa những người bị gọi tập trung theo lệnh của Quân Khu 6.

(Quân Khu 6 gồm các tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy.)

Tôi cám ơn chị nữ công chức Việt-Nam Cộng-Hòa rồi lên văn phòng chính của trại để hỏi cho rõ sự tình. Ngay cửa vào, tôi chạm mặt một cán bộ người Nam.

Vừa nghe tôi xưng danh, hắn đã hét lên,

– Anh là Vương Mộng Long hả? Anh đi đâu mà giờ này mới vác mặt tới đây? Xe của Quân Khu 5 chờ anh cả nửa ngày mà không thấy anh, họ đã khởi hành rồi! Anh đúng là thằng phá hoại!

La hét xong, y quay vào trong ra lệnh,

– Ðồng chí trực trại đem thằng này đi nhốt cho tôi!  

Thế là tôi bị còng hai tay dẫn tới góc rào, tống vào cái điếm canh bỏ trống nằm đằng sau một cái lô cốt lớn bên phải cổng trại.

Tới 6 giờ chiều thì kẻng tan sở gióng lên. Mấy người bị quản thúc trong phòng Y lần lượt theo nhau đi ra cổng.

Trong khi đó tôi ngồi bên song sắt ngó ra ngoài. Tôi không biết những bạn bè cùng phòng Z của tôi đã bị đem đi đâu. Nhưng cứ nghĩ tới câu nói mà tên cán bộ người Hải Hưng đã nói với tôi: “Nếu anh mà bị đưa về Quân Khu 5 thì khó toàn mạng đó! Có trốn được thì trốn đi! Cố gắng kín miệng, đừng cho ai biết tôi đã nói với anh điều này!”

Tôi thấy số mình còn hên. Có khi phải bất đắc dĩ chạy xe ôm không công một ngày mà tôi đã được toàn mạng cũng nên.

Ðúng 6 giờ 5 phút, tên cán bộ đã ra lệnh nhốt tôi chợt đi xăm xăm tới cửa điếm canh,

– Anh đã cơm nước gì chưa? Nếu đói thì chờ đó! Chút nữa sẽ có người đem cơm cho anh ăn.

Chợt nhớ tới cái giấy chứng nhận của tên Việt-Cộng ở Tòa Ðô Chánh, tôi nói với tên cán bộ,

– Hôm nay tôi tới trễ là có lý do! Cán bộ hãy mở còng tay để tôi lấy bằng cớ cho cán bộ coi.

Ðọc xong những chữ viết và săm soi kỹ cái dấu mộc đỏ, y gật gù,

– Tôi sẽ giữ cái giấy chứng nhận này. Bây giờ tôi cho phép anh về. Sáng mai đúng 8 giờ anh phải tới trình diện tôi trong phòng trực. 

Năm phút sau tôi ra tới cổng, chị Bền đang chờ tôi, mặt chị không giấu nổi nỗi âu lo,

– Chuyện gì vậy chú?

Tôi vắn tắt kể cho chị biết lý do vì sao tôi tới trễ và lặp lại những lời người nữ Cảnh Sát tỉnh Phan-Thiết đã nói với tôi cho chị nghe.

Ngày 21 tháng 5 tôi gửi xe sau quán của chị Bền rồi vào văn phòng chính của trại. Ở đây đã có bốn người, ba nam, một nữ của phòng Y ngồi chờ sẵn.

Năm chúng tôi là những người còn sót lại sau cùng của đợt tập trung ngày 11 tháng 5 năm 1975 của Ủy Ban Quân-Quản Thành Phố Sài-Gòn, Gia-Ðịnh.

Sau này tôi mới hay, hôm qua, 20 tháng 5 là thời hạn chót để các đơn vị địa phương tới tiếp nhận người.

9 giờ sáng chúng tôi được lệnh lên xe. Tôi lựa một chỗ ngồi bên trái, đằng sau xe để khi ra tới đường Lê Văn Duyệt tôi có thể vẫy tay báo hiệu cho chị Bền.

Xe vừa ra tới cổng, tôi đã thấy chị Bền và đứa con gái lớn của chị đứng bên lề vẫy tay. Tôi chắc mẩm rằng, thế nào chiều nay gia đình tôi cũng sẽ nhận được tin tôi bị đưa đi xa rồi.

Chúng tôi được chở đi quanh co một hồi rồi đậu trước khám đường Chí -Hòa.

Tên cán bộ trưởng toán ra lệnh cho chúng tôi xuống xe rồi dẫn chúng tôi đi vòng vòng một lúc sau thì chui vào một cái sân cỏ nhỏ. Y bảo chúng tôi đứng chờ nơi sát cổng, còn y thì ôm một tập hồ sơ đi vào phòng trực.

Tôi thấy dưới hiên một dãy nhà có vài người đứng chen chúc nhau. Trong số những người đang đứng lố nhố đó, tôi nhìn mặt được ba ông Biệt Ðộng Quân là Hồ Văn Hòa, Lương Ðình Chi và Nguyễn Hiệp. Tôi giơ tay vẫy họ, họ vẫn tỉnh bơ, có lẽ họ không nhận ra tôi.

Sau mười phút đợi chờ, tên cán bộ trưởng đoàn hối hả đi ra, y ngoắc tay cho chúng tôi đi theo.

Tới xe, y lớn tiếng nói với tên Việt-Cộng tài xế,

– Hết chỗ rồi! Chúng nó không nhận! Mình đi Quang Trung!

Xe nổ máy chạy ra ngoại ô Sài-Gòn, hướng về Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung.

Tới cổng Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung tên cán bộ trưởng đoàn lại lếch thếch ôm cái cặp đi vào.

Lần này chúng tôi không được xuống đất, mà phải ngồi yên tại chỗ.  

Mười phút sau thằng Việt-Cộng lại đi ra, lại ban lệnh cho thằng tài xế,

– Hết chỗ rồi! Chúng nó không nhận! Mình về Hoa Lư!

Trưa hôm đó chiếc GMC chở chúng tôi ngừng bánh trước một tòa nhà khá lớn nằm đối diện với sân vận động Hoa Lư trên đường Ðinh Tiên Hoàng. Vị trí này là cơ ngơi của một bộ gì đó tôi không nhớ, nay là chỗ đóng quân tạm thời của một đơn vị trực thuộc Quân Khu 7 Cộng-Sản. Trước sân có vài chiếc xe quân sự đang đậu.

Tên cán bộ dẫn giải ôm cặp hồ sơ đi vào cổng, mười phút sau lại đi ra.

Lần này y cho chúng tôi xuống xe. Chỉ tay về hướng căn phòng cuối dãy nhà, y ra lệnh,

– Các anh chị vào nghỉ trong đó, chờ phương tiện đi Quân Khu Ngoài!

Tôi nghĩ: “Quân Khu Ngoài chắc là Quân Khu 5 và Quân Khu 6”

Ngay khi đó, hai cán bộ Việt-Cộng khác từ sau khu dinh thự tiến ra vẫy tay gọi tên trưởng toán dẫn giải; rồi cả ba chụm đầu vào nhau bàn tán.

Mấy phút sau, ba tên này vừa nhìn về phía chúng tôi vừa viết viết, ký ký cái gì đó trên một mảnh giấy.

Cuối cùng, một thằng già Nghệ-Tĩnh bước tới trước mặt chúng tôi. Y hắng giọng “khạc! khạc!” vài ba cái rồi nói,

– Tôi đã ký nhận danh sách của các anh chị. Các anh các chị cứ ở tạm đây. Hôm nào có người ở Quân Khu Ngoài vào nhận, tôi sẽ cho các anh các chị đi. Bây giờ các anh các chị có thể về nhà, sáng mai đúng 8 giờ phải có mặt ngay chỗ này!

Nghe được câu này, tôi khoan khoái thở ra: “Thế là chưa sao! Chưa sao!”

Xế chiều, tôi mò về tới quán của chị Bền. Tôi kể cho chị hay diễn biến chuyện đã xảy ra trong ngày. Chị gật gật đầu,

– Như vậy chú còn hên hơn anh Bền! Không rõ giờ này anh Bền ở đâu? Chắc không lâu nữa chú sẽ bị chở đi gặp anh Bền. Gặp anh Bền, chú nhớ nói với anh ấy rằng, vợ con anh ấy suốt ngày cầu Trời Phật phù hộ, độ trì cho anh ấy. Vợ con anh ấy vẫn mong đợi từng ngày để gặp lại anh ấy!

Chị Bền đưa hai bàn tay lên vuốt mặt, nước mắt đã rơi, chị tôi không nói thêm được lời nào nữa…

Hôm đó tôi về tới nhà sớm hơn mọi ngày. Vợ chồng con cái chở nhau trên chiếc Honda đi quanh phố một vòng mà thấy trong lòng thật là vui, quên hết muộn phiền, lo âu.

Từ ngày 22 tháng 5 tôi không còn dùng Honda để làm phương tiện di chuyển nữa; tôi tới sân vận động Hoa Lư theo hai tuyến đường xe Lamb. Vì nếu tôi tiếp tục dùng Honda mà bất chợt người ta bắt tôi đi, thì gia đình tôi làm sao hay biết mà đi tìm xe? Vả lại cái sổ chủ quyền của chiếc xe lúc nào cũng phải nằm trong túi người lái nó. Lái xe mà không có sổ chủ quyền, gặp các trạm kiểm soát giao thông thì xe sẽ bị tịch thu ngay. Người nhà có tìm ra xe mà không có sổ chủ quyền thì cũng bó tay. Trong thời gian gửi xe ở quán cháo lòng của vợ anh Bền, tôi cũng gửi chị Bền cái sổ chủ quyền chiếc Honda của tôi.

Ðược cái là vấn đề kiểm soát giờ giấc của bọn Việt-Cộng này cũng rất dễ dãi, không chút khắt khe. Chúng tôi có tới trễ, tới muộn nửa giờ, một giờ, cũng không ai làm khó dễ gì.

Hàng ngày chúng tôi chỉ cần có mặt ký tên trên sổ điểm danh một lần, rồi muốn đi đâu thì đi, lâu lâu lại tạt về phòng cho có mặt.

Gần tới cuối tháng chúng tôi có thêm hai ông bạn mới. Hai ông này là hai ông thiếu tá khóa 10 Ðà Lạt; một ông làm Trưởng ty Cảnh-Sát, một ông làm Trưởng ty Chiêu-Hồi. Chẳng rõ các ông này do cơ quan nào mang tới gửi ở đây. Chắc hai vị này cũng là những người đang chờ bị bốc đi như chúng tôi.

Mãi hai ngày sau tôi mới biết ông Trưởng ty Cảnh-Sát tên là Nguyễn Hồ Ðịch, còn ông Trưởng ty Chiêu-Hồi tên là Trần Hướng Trung.

Một buổi trưa tôi rủ hai ông đàn anh Võ-Bị tản bộ ra ngã tư ăn bún bò. Khi chúng tôi quay về thì thấy bốn người Quân Khu 6 đang tụ họp trong văn phòng để làm việc gì đó. Lúc trở ra mặt người nào người nấy đều có vẻ tươi vui. Chúng tôi đang chuẩn bị đi về, nên không kịp hỏi han xem có chuyện gì đã xảy ra. Sáng hôm sau thì bốn người bạn này không xuất hiện nữa.

Thấm thoát đã qua đầu tháng 6, qua tin truyền đi trên Truyền Thanh và Truyền Hình thì Ủy Ban Quân Quản Thành Phố đã ra thông cáo rằng sĩ quan cấp thiếu tá trở lên sẽ phải trình diện đi học tập cải tạo tại vài địa điểm trong Sài-Gòn.

Tên Việt- Cộng thường ngồi nhận chữ ký hằng ngày của chúng tôi cho chúng tôi biết rằng từ nay Quân Khu 7 sẽ không cho phép các Quân Khu khác tới nhận người nữa. Như thế là chúng tôi không còn phải lo lắng chuyện sẽ bị chuyển giao cho các Quân Khu Ngoài.

Y nói, chúng tôi chỉ cần có mặt ở đây vào ngày các lớp học tập khai giảng thì đơn vị này sẽ cung cấp phương tiện để đưa chúng tôi tới trường, tới lớp. Y nhắc nhở chúng tôi nhớ chuẩn bị đem theo áo quần cùng những vật dụng cần thiết như kem đánh răng, bàn chải để tiện dùng trong thời gian một tháng học tập xa nhà.

Cũng từ ấy, chúng tôi có thể chia phiên nhau, một người có mặt, hai người kia ở nhà. Ba chúng tôi đều biết địa chỉ của nhau. Do đó, người trực có thể đi kêu hai người kia nếu có chuyện gì cần gấp.

Tên cán bộ quản chế cho chúng tôi biết rằng các trung tâm sẽ nhận người đăng ký từ ngày 13 tới 15 tháng 6 năm 1975. Chúng tôi sẽ được chở tới trung tâm vào ngày cuối, tức là 15 tháng 6 để khỏi phải chờ lâu tại trung tâm trước khi tới địa điểm học tập.

Ðúng 12 giờ trưa ngày 15 tháng 6 năm 1975 tôi và hai ông đàn anh được đưa lên xe để di chuyển tới các trung tâm tiếp nhận.

Xe chạy thẳng một lèo tới Trường Trung Học Lasan Taberd thì ngừng, tôi bị gọi xuống. Tên cán bộ hướng dẫn đem tôi vào văn phòng của trường, giao nạp tôi cho một sĩ quan Cộng-Sản.

Cầm cái biên nhận tù binh, tên cán bộ dẫn giải bắt tay tôi rồi nói,

– Mừng anh! Chúc anh học tập tốt, lao động tốt để sớm về sum họp với gia đình.

Sau đó tôi được một tên bộ đội dẫn lên lầu để nhập bọn cùng vài sĩ quan cấp thiếu tá đã trình diện sáng nay; vì vậy tôi không rõ hai ông thiếu tá khóa đàn anh của tôi bị đưa tới trung tâm nào. Mãi tới sáu năm sau, 1981 tôi mới gặp lại hai vị này ở Trại Z30C Hàm-Tân, Thuận-Hải.

Từ 15 tháng 6 năm 1975 tôi bắt đầu một chuyến đi xa dài ngày…

Nửa năm đầu, từ tháng 6 năm 1975 tới giữa tháng 10 năm 1975 tôi bị giam tại trại Long-Giao. Qua một tháng sống đời tù đày, tôi bắt đầu có ý định vượt ngục. Tôi đã bàn chuyện trốn trại cùng hai ông thiếu tá cựu quận trưởng, nhưng giờ chót hai ông này thối chí, nên tôi đành phải huỷ bỏ mưu đồ.

Nửa năm kế đó tôi bị chuyển về trại giam Suối Máu, Tam-Hiệp, Biên-Hòa, chờ ngày bị đưa ra Bắc.

Hai tuần lễ sau ngày bị đưa ra đất Bắc, nửa đêm 8 tháng 8 năm 1976, tôi vượt ngục lần đầu. Trải qua mười ngày lặn lội trong rừng dưới cơn bão số 6, tôi và người bạn đồng hành bị bắt lại, bị cùm, bị đánh đập, khảo tra, rồi được cho về Ðội 11, Trại 4, Liên Trại 4 để tiếp tục lao động.

Một hôm trời giăng giăng mưa phùn, tôi và bạn tù đi cấy lúa vần công cho Thôn Nam Xã Cẩm-Nhân, Yên-Bình, Yên-Bái thì thấy hai ông tù cải tạo khiêng một cái võng có người nằm bên trong.

Cái võng được phủ bằng chiếc mền Trung Cộng màu đỏ. Theo sau cái võng là một ông tù đeo cái balô, có lẽ trong balô là tài sản của người nằm trên võng.

Có một vệ binh Việt-Cộng đeo AK đi canh chừng đằng sau ông tù đeo balô. Chắc mấy người này đang đưa một ông tù bệnh nặng lên bệnh xá của liên trại để chữa trị.

Tôi ngừng tay cấy, lớn tiếng hỏi,

– Ê! Ai đó? Các cha?

Ông tù mang ba lô liền lớn tiếng đáp lời,

– Tước! Tước rằn ri!

– Phải Nguyễn Ðỗ Tước Biệt Ðộng Quân không?

– Ðúng rồi!

– Bệnh gì vậy?

– Kiết lỵ!

Chiều hôm đó cái võng lại quay về, vẫn có chiếc mền đỏ Trung Cộng phủ bên trên.

Tôi lại hỏi,

– Hết bệnh chưa?

Ông tù mang ba lô lại đáp lời,

– Chết rồi!

Tôi chỉ còn biết ngậm ngùi đứng nhìn theo bóng chiếc mền đỏ đi xa dần về hướng Trại 8 nơi Ðèo Lũng Ngàn.

Ngày xưa, trước tôi, Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước đã là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân ở Pleime.

Tết Dương Lịch 1978 vừa đi qua thì tôi vượt ngục lần thứ hai. Sau hai tháng lặn lội trong rừng, chưa vượt khỏi biên giới Việt-Lào, tôi lại bị bắt.

Thất bại lần này, qua những trận khảo đả dã man của kẻ thù mà tôi không thành người tàn phế cũng là nhờ phúc đức ông bà đã che chở cho tôi.

Năm 1981 tôi bị chuyển trại về Nam, trại tù mới có tên Z30C Hàm-Tân, Thuận Hải.

Rồi một sớm tinh mơ cuối năm 1984 tôi vượt ngục lần thứ ba.

(còn tiếp)

Chuyến xe tháng 5 (kỳ cuối) - Vương Mộng Long -

Lời giới thiệu: 

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Vừa nhảy khỏi rào trại, tôi đã bị một vệ binh túm được. Lạ lùng một điều là thằng Việt-Cộng này đã không bắn tôi, không bắt tôi, mà chỉ xua tay ra dấu cho tôi chui vào sân trại trở lại.

Ghìm súng trước ngực tôi, y ra lệnh:

“Anh Long không được đi! Trong giờ tôi gác mà anh trốn thoát thì tôi sẽ vào tù thay anh! Vào đi! Vào đi! Anh không chịu chui vào thì tôi phải bắn!”

Nghe thế, tôi bèn nhanh nhẹn chui vào trong rào trở lại. Ai ngờ, một tuần lễ sau ngày đó thì tên Công An vệ binh Việt-Cộng này đã cùng một ông tù cải tạo rủ nhau vượt biên. Họ trốn trong khi tên Công An dẫn ông cải tạo viên đi kiếm củi! Có lẽ hai người này đã an vui sinh sống trên đất Hoa-Kỳ.

Cuối năm 1985 tù cải tạo trại Z30C được tha gần hết, gần chục người sau cùng, trong đó có tôi, bị chuyển sang trại Z30D cũng ở Hàm-Tân, Thuận-Hải; trại này còn có tên là Trại Thủ-Ðức. Tôi gặp lại ông Lương Ðình Chi và anh Huỳnh Cẩm Lường ở trại này.

Tại đây, chúng tôi tiếp tục bị cưỡng bức lao động cật lực cả ngày lẫn đêm.

Khoảng trung tuần tháng 12 năm 1987, sau một ngày làm công tác đào ao thông tầm, ông Lương Ðình Chi tìm gặp tôi trong sân. Ông Chi ôm ngực, nhăn nhó,

– Long ơi! Nhờ chú cạo gió cho anh. Ngực anh đau quá, thở không được.

Tôi dẫn ông về phòng, nhờ bác Mậu già trực buồng xoa dầu, cạo gió, nắn xương cho ông.

Hôm sau ông Chi được cho vào nằm trong bệnh xá, không phải đi lao động. Bệnh tình của ông Chi ngày một tăng, ông không ăn được, không thở được. Trước lễ Giáng Sinh năm 1987 thì Việt-Cộng cho ông Chi về điều trị tại gia; sang năm 1988 tôi cũng được thả.

Tôi được về, nhưng anh bạn Trung sĩ Thông Dịch Viên Huỳnh Cẩm Lường của tôi vẫn còn bị giữ trong trại.

Về tới nhà hôm trước, hôm sau tôi tới góc đường Nguyễn Biểu, Trần Hưng Ðạo để thăm ông bạn già Lương Ðình Chi, ông Chi đang nằm liệt giường, liệt chiếu. Tháng sau thì ông Chi qua đời.

Cũng trong thời gian này tôi tái ngộ cựu Thiếu tá Biệt Ðộng Quân Hồ Văn Hòa, anh Hòa đang làm chủ một xe bán nước sinh tố trên đường Lê Thánh Tôn.

Anh Hòa cho tôi hay rằng ngay tối 11 tháng 5 năm 1975 anh và vài chục người khác bị đưa xuống tàu thủy chở ra Côn Ðảo. Không biết vì lý do gì nửa đường, tàu có lệnh quay trở lại.

Về lại Sài-Gòn, anh Hòa bị đưa vào Lao Xá Chí-Hòa chờ ngày đưa đi cải tạo. Vì lý do đó mà sáng 21 tháng 5 năm 1975 tôi đã nhìn thấy anh ta đứng trong hiên Chí Hòa.

Tới năm 1988, bạn bè mà tôi gặp trong sân Biệt Khu Thủ Ðô ngày 11 tháng 5 năm 1975 chỉ còn rất ít.

Trong suốt 13 năm, từ 1975 tới 1988, trải qua bao nhiêu trại giam; ở đâu tôi cũng cố tìm tin tức những người bạn đã cùng tôi có mặt trong phòng “Zét” ngày xưa. Nhưng tới ngày tôi rời trại tù, 6 ông bạn của tôi vẫn bặt vô âm tín.

Ít lâu sau ngày về tôi đạp xe qua khu doanh trại cũ của Biệt Khu Thủ Ðô để xem quán cháo lòng của bà vợ ông Huỳnh Thanh Bền có còn ở đó hay không.

Thời 1988 khu vực này vẫn chưa có nhiều thay đổi, lều quán bên đường vẫn y nguyên, phố xá có vẻ còn tiêu điều hơn là trước ngày tôi bị dẫn lên xe đưa đi khỏi nơi đây.

Quán cháo lòng ngày xưa được che bằng hai cái poncho ghép lại, nay được thay bằng một tấm vải nhựa dày. Nồi cháo bốc hơi ngày xưa nay được đổi thành nồi xôi đậu xanh, cũng bốc hơi.

Tôi thấy người ngồi sau cái bàn vuông có hai cái ghế con là một bà già gầy guộc tóc bạc phơ. Nhưng tôi đoan chắc rằng người đó là vợ ông Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền.

Thấy tôi dừng xe chị Bền ngước mắt hỏi,

– Ông khách cần mấy gói xôi? Muốn gói muối đậu chung với xôi hay là gói riêng?

Tôi ân cần,

– Chị Bền! Chị không nhận ra em sao? Long đây chị!

Nghe vậy, chị Bền giật mình trợn mắt,

– Cái gì? Ông khách là chú Long hả?

Tới lúc nhận ra tôi rồi, chị Bền bật khóc,

– Em về rồi hả? Em về lúc nào vậy? Em có gặp anh Bền không?

– Em mới về mấy ngày thôi! Mười ba năm nay, đi tới trại nào em cũng dò hỏi, nhưng không có tin tức gì của anh Bền cả. Còn chị, từ ấy tới giờ chị có đi tìm anh không? Có nghe ngóng được gì không?

Chị Bền kéo cái ghế con cho tôi ngồi, rồi lấy tấm vải nhựa phủ lên trên gánh xôi, làm như đã dẹp cửa hàng, không tiếp khách nữa,

– Chuyện dài lắm chú ơi! Ðể chị từ từ kể cho chú nghe.

Chị Bền bắt đầu kể chuyện bằng những âm thanh nghẹn ngào chan bằng những giọt nước mắt.

Trong gần một giờ đồng hồ tôi đã được nghe toàn bộ câu chuyện đi tìm chồng của Chị Bền.

Thì ra từ khi bị chuyển đi, tôi đã lấy lại cái thư mà tôi đã gửi chị Bền, nên chị không còn địa chỉ nhà tôi, do đó chị không biết tìm cách nào mà liên lạc được với vợ con tôi.

Năm cái thư của những bạn phòng “Zét” đã được con gái anh Bền gửi đi ngay sau ngày các anh ấy lên xe. Bốn gia đình nhận thư đã không hồi âm, riêng người vợ của Thiếu úy Bổn mãi ba tháng sau mới liên lạc với con gái anh Bền.

Trong thư, chị Hà, vợ anh Bổn đã hẹn ngày để vào thăm chị Bền. Hôm đó chị Bền không ra quán, ở nhà đón chị Hà.

Chị Hà không đội khăn tang, nhưng ghim trên ngực áo một miếng vải đen, đó là dấu hiệu chị có thân nhân vừa quá vãng.

Bước vào nhà, chưa kịp ngồi xuống ghế, chị Hà đã vừa mếu máo vừa nói,

– Các anh ấy chết hết rồi! Các anh ấy bị xử tử, trôi sông hết rồi!

Nghe được câu này thì vợ Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền ngã ra ngất xỉu. Cạo dầu, đánh gió cả giờ sau mà chị Bền vẫn phải nằm trên giường không dậy nổi.

Chị Hà đành kể tiếp phần sau câu chuyện cho cháu Thoa nghe.

Thì ra cơ mưu thả thư rơi của ông Thiếu úy Thám Báo đã không thành công. Những cái pháo tép có vỏ ngoài quấn bằng những tờ giấy bạc 500 đồng của Ngân-Hàng Quốc-Gia Việt-Nam phát hành đã bị tịch thu ngay khi các ông bạn tôi vừa đứng vào hàng tập họp trong sân để kiểm tra an ninh trước khi lên xe.

Chiếc Molotova chở sáu ông phòng “Zét” đã chạy thâu đêm và suốt ngày hôm sau thì tới Qui-Nhơn. Họ được giao cho Ủy Ban Thanh Lọc của Quân Khu 5.

Ngày kế đó, họ bị đưa vào một khu vườn cây cối um tùm, nằm sát bờ sông Lại Giang gần chân cầu xe lửa Bồng Sơn. Nơi này có mấy dãy nhà tôn vách ván kín mít. Sáu người bị trói tay và bị nhốt trong một căn phòng tối như bưng. Phòng giam này do ba cán binh Việt-Cộng luân phiên canh giữ suốt đêm ngày.

Liên tiếp một tuần lễ, ngày nào họ cũng bị áp giải lên một phòng chứa đầy dụng cụ tra tấn để các chuyên viên khai thác thẩm vấn và chấp cung.

Qua ngày thứ tám thì sáu ông cựu quân nhân Việt-Nam Cộng-Hòa đã kiệt lực, không ai đứng dậy nổi. Ngày thứ chín họ được ở yên trong phòng.

Tới tối ngày thứ mười thì có bốn tên Việt-Cộng từ Ủy Ban Thanh Lọc Quân Khu 5 tay thủ AK 47 lầm lì xuất hiện trước phòng giam.

Bọn này gọi tên, ra lệnh cho người tù lớn tuổi nhứt là Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền bước ra ngoài.

Tới cửa, trước khi bị dẫn đi, ông Bền bị trói chặt hai tay bằng một sợi dây dù, hai mắt ông bị bịt bằng một vuông vải đen, miệng ông bị nhét một cái giẻ to.

Rồi cứ thế, mỗi tối phòng giam lại hụt đi một người. Anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh là người bị trói tay, bịt miệng, bịt mắt dẫn đi sau cùng.

Chị Hà biết được chuyện này là do một trong ba tên cán bộ Cộng-Sản canh giữ phòng giam kể lại cho chị nghe. Y là người đã chứng kiến những gì đã xảy ra từ ngày đầu tới ngày cuối.

Số là, khi ra đi, anh Bổn đã chuẩn bị sẵn mười cái khoen vàng một chỉ. Anh luồn những cái khoen vàng đó trong lưng quần. Sau khi bị khảo đả ngày đầu, anh Bổn vội rút hết vàng ra mua chuộc một tên cán bộ bảo vệ. Tên này cùng quê Phú-Phong, Bình-Ðịnh với anh Bổn. Y đã cố gắng giúp anh khai bệnh tiêu chảy lúc nửa đêm. Anh được đưa ra bờ sông để đại tiện; thừa dịp này anh có thể nhảy xuống nước mà lặn đi. Nhưng mỗi lần anh ra ngoài, đều có hai vệ binh đi theo. Tên vệ binh thứ nhì đã ranh ma, cột chặt một tay anh vào cổ tay nó, do đó đã có hai dịp may ngồi bên bờ nước mà anh Bổn vẫn không trốn được.

Vài ngày sau, biết mình đã cùng đường, anh Bổn kể hết mọi chuyện đã xảy ra từ ngày anh bị tập trung ở Sài-Gòn cho tới ngày anh bị đưa về Bình-Ðịnh cho tên Việt-Cộng gốc Phú-Phong nghe. Anh cho y địa chỉ gia đình anh ở Qui-Nhơn và viết mấy chữ nhắn người nhà anh đền ơn cho y, nếu y tìm tới gặp vợ anh và kể cho chị ấy biết hết sự tình. Thời gian này chị Hà đang ở nhà cha mẹ đẻ trong thành phố Qui -Nhơn.

Một tuần lễ sau ngày anh Bổn bị trôi sông, tên cán bộ người Phú-Phong đã tới nhà gặp chị Bổn.

Tên Việt-Cộng kể rằng ngày cuối cùng chỉ còn một mình anh Bổn trong phòng, anh vẫn bình tĩnh như thường, anh nhờ y nhắn với chị Hà một câu:

“Kiếp này duyên tình của vợ chồng mình nửa đường đứt đoạn, đôi ta chỉ biết hẹn gặp nhau ở kiếp sau!”

Y cũng tiết lộ cho chị Hà biết lý do vì sao mỗi đêm Ủy Ban Thanh Lọc Quân Khu 5 chỉ đem một người đi bắn rồi đạp xác xuống sông Lại Giang.

Sở dĩ nhà cầm quyền Việt-Cộng chọn cách giết từng người như thế chỉ với mục đích tránh tai mắt của ngư dân quanh vùng. Lại Giang là con sông lớn, nước chảy không ngừng, nên chỉ vài giờ sau khi bị ném xuống nước, xác người bị thủ tiêu đã trôi tới biển Ðông.

Nghe xong chuyện sáu anh em phòng «Zét» bị thủ tiêu, gia đình chị Hà đã bỏ công thuê người đi dò dẫm hỏi thăm dân cư ngụ hai bên bờ Lại Giang từ cầu Bồng-Sơn ra tới cửa biển An Dũ xem có xác chết trôi nào nổi lên không?

Cả tháng sau không tìm thấy dấu tích gì, gia đình chị Hà đành bỏ cuộc. Tới tháng thứ ba, chị Hà mới vô tình lục ra cái thư của bà chị anh Bổn gửi ra từ Sài-Gòn, từ đó chị Hà có địa chỉ của vợ anh Bền.

Từ sau lần gặp mặt đó, bẵng đi một thời gian dài, tới cuối năm 1979 chị Hà lại tái xuất hiện. Lần này chị tới từ biệt chị Bền để ra đi theo chương trình xuất cảnh bán chính thức. Chị Hà bước thêm bước nữa. Chồng mới của chị là một ông lớn tuổi, người Việt gốc Hoa.

Chị Bền cho tôi hay cháu Thoa đã có gia đình, chồng cháu là con một ông đại úy chế độ cũ, ông ấy đã được tha về từ năm 1981. Chồng cháu Thoa đã nhiều lần bỏ công sức đi tìm người tù có tên Huỳnh Thanh Bền qua những trại giam của Quân Khu 5 như Tiên Lãnh, Bình Ðiền, Gia-Trung, Thuần-Hạnh,  Củng-Sơn… vân vân, nhưng vô vọng.

Có một lần, vào năm 1982, gia đình cháu Thoa được tin ông Bền bị giam ở Trại Z30 A nơi Ngã Ba Ông Ðồn và đang nằm chờ chết vì bịnh sốt xơ gan. Cả nhà ông Bền, gồm cả con trai, con gái, con rể, cùng với hai đứa cháu ngoại, kéo nhau lên Ngã Ba Ông Ðồn để xin gặp mặt ông lần cuối. Nhưng tiếc thay, khi gặp nhau mới vỡ lẽ ra, ông Huỳnh Thanh Bền này chỉ là một người trùng tên, trùng họ với ông Bền ở phòng «Zét» của trại Lê Văn Duyệt mà thôi.

Thời gian sau khi tôi được thả thì tất cả tù nhân cải tạo còn lại đều bị tập trung về trại Z 30 D, ở Hàm-Tân. Tôi nói với cháu Thoa hãy lên đây hỏi thăm xem có ai tên là Huỳnh Thanh Bền hay không.


image.png

Chỉ một tuần sau tôi gặp lại chị Bền, chị gạt nước mắt rồi nói với tôi,

– Chú ơi! Chẳng có ai tên Huỳnh Thanh Bền ở trại này!

Bận rộn công việc làm ăn kiếm sống, nhưng tôi và một anh bạn gốc Thủy Quân Lục Chiến vẫn lâu lâu ghé thăm chị Bền.

Gặp hai đứa em, chị vui mừng ra mặt, nói đủ thứ chuyện.

Chị kể rằng ngày xửa, ngày xưa chị và anh Bền là con của hai ông địa chủ ở Cần Thơ. Hai ông địa chủ gả con, cưới vợ cho con mà chẳng thèm hỏi ý kiến con.

Hai cô chiêu, cậu ấm này đều là dân học trường Tây, trường Ðầm, nhưng vẫn nghe lời phụ mẫu: “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó!”

Chị kể cho tôi nghe chuyện đám cưới nhà quê diễn ra như thế nào.

Chị nói, ngày đưa dâu chị lo sợ lắm. Chị không biết ông chồng  mình dáng dấp cao, thấp, béo, gầy, ra sao, tính tình hiền lành hay hung dữ, rồi chị che miệng cười,

– Vậy mà chỉ ít lâu sau khi thành vợ, thành chồng, tụi này đã thương nhau dứt ra không nổi.

Chị tâm sự,

– Ảnh là tri kỷ của tui, còn tui cũng là tri kỷ của ảnh! Ảnh Solo Guitar hay lắm! Nhưng ảnh chỉ đờn cho mình tui nghe thôi! Hai đứa tui cứ tự ví mình như Bá Nha, Tử Kỳ. Ngày đám cưới, mẹ ảnh có cho tui một cành thoa bằng vàng, ảnh nói sau này có con gái thì ảnh sẽ đặt tên nó là cây trâm vàng để nhớ mẹ anh ấy. Vì thế, đứa con gái đầu của tụi tui có tên là Kim Thoa…

Một hôm, tôi ghé thăm, chị cho tôi hay thằng con trai và đứa con gái út mới về làm ăn dưới Cần-Thơ, quê nội, còn chị thì dọn về ở với gia đình cháu Kim Thoa đâu đó vùng Thị Nghè.

Tôi thắc mắc,

– Giờ này mấy đứa nhỏ đã lớn khôn và có gia thất cả rồi, chị không còn phải lo lắng nuôi dạy chúng nó nữa. Sao chị không ở nhà nghỉ ngơi và trông cháu?  Chị còn tiếp tục buôn bán kiếm tiền làm chi

Nghe thế, chị Bền nhìn tôi rầu rầu,

–  Chị đâu có cần nuôi ai! Chị chỉ nuôi hy vọng thôi! Chị ôm gánh xôi mỗi ngày ở đây chỉ vì chị coi chỗ này như một cái hộp thư. Biết đâu hôm nào đó có một ông của phòng “Zét” còn sống sót đi qua, thì chị sẽ có tin tức của anh Bền.

Ngày 5 tháng 5 năm 1992 những người tù cải tạo sau cùng được trả tự do; một trong những người đó là Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai, người đã chỉ huy tôi.

Một tuần sau tôi tới tư gia của Thiếu Tướng Giai để thăm ông.

Dịp này Tướng Giai đã nói với tôi,

– Thế là từ nay tất cả anh em mình đều đã được đoàn tụ với gia đình.

Tôi buồn rầu, nắm tay ông Tướng,

– Không phải vậy đâu Thiếu tướng ơi! Còn nhiều anh em đã ra đi mà chưa thấy về!

Trên đường về nhà, tôi đạp xe qua con đường xưa ghé thăm chị Bền. Chị vẫn còn ngồi chỗ cũ. Chị vẫn bán xôi. Chị vẫn chờ tin chồng.

Chị hỏi tôi,

– Em đi thăm ai về?

Tôi trả lời,

– Em vừa từ nhà Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai về, tiện đường ghé thăm chị. Ông Giai mới được thả tuần trước. Ông ấy là người sau cùng ra khỏi nhà giam.

Nghe vậy, chị Bền thở dài,

– Như thế thì anh Bền không về thật rồi! Anh ấy không về thật rồi em ơi!

Chợt chị ngẩng mặt nhìn tôi,

– Bây giờ là tháng 5, năm xưa anh Bền cũng ra đi vào tháng 5. Anh ấy không về, thì coi ngày anh lên xe cũng là ngày giỗ của anh! Chú có nhớ ngày anh Bền lên xe không?

– Hôm đó là 20 tháng 5 năm 1975.

– Hôm nay là ngày mấy rồi hả chú?

– Dạ! Hôm nay là 12 tháng 5.

Chị Bền bỗng hạ thấp giọng như tự nói cho một mình chị nghe,

– Còn tám ngày nữa là tới ngày giỗ của anh. Anh Bền ơi! Em hẹn sẽ gặp anh đúng ngày hôm đó! Chờ em! Chờ em! Anh ơi! Anh ơi!…

Nghe chị Bền buông những lời than não lòng như thế, tôi bèn an ủi chị,

– Chị đừng quá bi thương, chị còn con, còn cháu. Chị hãy nhìn vào con, vào cháu mà quên đi những muộn phiền…

Chị Bền mở to đôi mắt nhìn tôi, rồi nói với một giọng thật là tỉnh táo,

– Chị ráng sống tới ngày hôm nay chỉ vì chị còn hy vọng. 

Sau đó chị đứng lên, xếp gọn quang gánh chuẩn bị đi về.

Những lần qua đây sau ngày ấy tôi không còn trông thấy chị nữa.

Một năm sau, tháng 4 năm 1993 gia đình tôi lên đường đi Hoa-Kỳ định cư theo diện H.O.

Trước ngày đi Mỹ, tôi ra thăm Ðà-Nẵng lần cuối cùng. Trong chuyến đi này, tôi có dịp ngồi trên xe đò qua cầu Bồng-Sơn, Bình-Ðịnh.

Chiếc xe già chở đầy khách, bò từ từ trên cây cầu dài, dưới sông nước cuồn cuộn đục ngầu.

Nhìn những cụm lục bình trôi băng băng xuôi dòng, tôi chợt rùng mình, nhớ lại chuyện xưa.

Tôi tin rằng ngày 20 tháng 5 năm 1975 Thượng Ðế đã ra tay cứu tôi thoát khỏi chuyến xe oan nghiệt chở tù binh đi Quân Khu 5, vì nếu Ngài không sắp đặt sẵn những điều đã xảy ra ngày hôm đó thì chắc chắn giờ này linh hồn tôi đã vật vờ đâu đây, dưới chân cầu Bồng-Sơn hay trên sóng sông Lại Giang…

VML

Seattle tháng 5 năm 2021

Wednesday, July 21, 2021

Đứa Bé Chết Trên Dòng Sông Quê Hương - Phan Nhật Nam

Chuyện kể theo nhạc và lời “Thằng Bé Tát Dầu”, của Phan Văn Hưng nghe trên đường đi.
Hai đứa bé không kịp nhìn ra cảnh sắc huy hoàng khi Sàigòn vừa lên đèn. Ánh điện từ cơ xưởng hải quân chạy dài theo bến cảng, nhấp nhô, long lanh trên những tầng lầu, hiện rõ dần khi màu nắng vàng nâu trôi chậm về phía biển và bóng tối bắt đầu loang lạnh dòng sông. Từ Thủ Thiêm, hai đứa nhỏ nương bóng tối, vượt qua sông, hướng phía rạch Thị Nghè, nơi con sông quành một khúc cong rộng, nhập với dòng Đồng Nai trước khi đổ ra biển.
- Mình đi thế nầy có sớm không Hai? Đứa nhỏ âu lo hỏi anh theo nhịp thở khi cố rướm mái chèo đưa con thuyền gối lên lườn sóng đang mỗi lúc mỗi mạnh bởi ngược dòng triều cuồng cuộn chảy ra biển.
- Không đâu, giờ nầy lính gác thường không để ý, họ đang mắc ăn nhậu, đi khuya hơn, dễ bị lính thấy vì lúc đó không còn ai trên sông, người lớn lúc đó cũng tới bộn, mình con nít làm sao chen vô.
Thằng anh bỏ dở câu nói, nhấc người lên khỏi sàn thuyền để dầm xuống tay lái bị giật ngược vì có chiếc thuyền sắt lớn đang đi qua. Bóng tối âm u của thân tàu làm thẫm thêm màu đêm trên sông đen.
- Hai à. Đứa em lại mở lời. Nó nhận ra có điều gì bất ổn giữa nỗi im lặng se sắc nầy.
- Đừng nói nữa, tao đang kẹt tay lái, mầy không thấy sao. Hỏi miết!
Thằng anh cao giọng tỏ ý bực dọc. Nhưng khi chiếc thuyền đã trôi xuôi theo nếp sóng, nó nhận ra qua bóng đêm, thân hình nhỏ yếu gầy gò của đứa em đang lay lắt chuyển dịch, lòng nó dâng lên mối xúc động bùi ngùi. Tội nghiệp, má mất từ lúc nó còn nhỏ, và thằng cu vừa chập chững biết đi. Và cảnh tượng khi nó trở về từ Chợ Cầu Ông Lãnh, hai đứa em ngồi co quắp thoi thóp bên cạnh thây người vừa qua cơn hấp hối. Người mẹ nằm lật ngửa trên đống vỏ dừa xập sùi lớp rác bùn nhơ nhớp, mắt đứng tròng ngầu đục chống ngược nhìn lên gầm cầu rung rinh dưới sức nặng của đoàn xe tải, xe ba gác, khối người đang chuyển dịch gào động bên trên. Khi kéo hai thân thể nhỏ bé hôi hám ra khỏi vùng người chết, nó nhìn xuống mắt người mẹ đang mở trừng trừng khô rốc. Má chết nghe má! Không một tiếng khóc, kể cả nó, dù đã đủ trí khôn để hiểu nỗi đau lần mất mẹ. Mỗi chiều chèo thuyền qua sông, nhìn về miệt rạch Bến Nghé, khi nhớ lại chuyện của năm qua, nó có cảm giác như vừa mới đang xảy ra. Nó luôn thấy nặng nặng phiền phiền trong lồng ngực. Ngày nó mười bốn và đứa em nầy lên bảy. Móc được dầu khá khá, mầy muốn Hai mua cho mầy cái gì? Nó hỏi em thắm thiết, lòng trùng lại bởi mối xa xót thương yêu. Tội nghiệp, thằng nhỏ có bữa nào được no đâu! Nó thương em bởi hằng hiểu cơn đói luôn quặn thắt trong thân.
- Em không muốn gì trọi trơn. Chỉ muốn có má thôi. Còn má thì cái chi cũng có, Hai không nhớ lần má cho mình ăn bún nước lèo há! Đứa em trở lại sinh động, phấn khởi làm như thể đang được ăn món ngon kỳ lạ kia và người mẹ ngồi nhìn con tươi vui rạng rỡ.
- Mầy nói vậy, còn ba thì có nhiều thứ hơn nữa. Giọng thằng anh trở nên khàn đục như đang phải nuốt một thứ gì đắng, cứng, quá khổ.
- Em đâu biết, mà ba làm gì, ba đâu rồi, sao ba không ở với má và anh em mình? Thằng em dò hỏi. Quả thật, đã từ lâu nó không nghe, biết về người cha.
- Mầy biết vậy thôi, khi nào lớn lên tao nói cho nghe, mà thôi, cũng không nên.
Thằng anh chấm dứt câu chuyện. Nó trở nên nghĩ ngợi, bởi thật sự cũng không muốn nhớ cảnh tượng buổi sớm mai hôm đó. Người lính đứng giữa đám nhà doanh trại đang bốc cháy, tay anh cầm chắc một cây súng, lưng, vai đeo đầy giây đạn và hai khẩu súng khác. Toán lính vừa bắn vừa lùi dần về sau những căn nhà trại gia binh. Đám đàn bà và con trẻ nháo nhác, những viên đạn pháo nổ chụp, một vài cơ sở bốc cháy. Mầy chạy đi, dẫn dùm vợ con tao ra Cổng C, tao với mấy đứa tiểu đội hai giữ chốt nầy, không cho tụi nó vào bộ tư lệnh! Ba nó hét những lời hỗn độn với những người lính chạy lố nhố chung quanh. Người mẹ quỳ xuống van nài. Mình mình, mình đừng bỏ mẹ con tui. Mình đừng bỏ mẹ con tui. Má nó day day cánh tay ra hiệu cho nó chạy đến ôm chầm lấy người cha. Hai đứa em nhỏ vùng vằng, khóc ngất. Ba nó gầm gừ. Má nó với mấy đứa nhỏ chạy ra cổng đi. Tui không bỏ đi đâu hết, cứ chạy xuống chỗ Nhà Thờ Ba Chuông ở tạm. Ba nó chạy đến sau những thân cây keo cùng những người lính khác. Đầu cổng chính Trại Hoàng Hoa Thám, lối vào Bộ Tư lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù, chiếc xe tăng xoay nòng súng dò tìm độc ác... Viên đạn nổ bùng. Những xác người bay bay. Mình ơi! Má nó gào ngất. Má... má! Nó cũng kêu khản tiếng thất thanh bất ngờ. Đứa bé em bế trong tay ré khóc. Chiều nay qua sông giữa màn đêm, thằng bé thấy lại lửa và cảnh má nó quay cuồng bên xác người cha vừa bị bắn tung xé bay mù. Thằng bé hằng sống cùng lửa - Lửa của mỗi ngày. Lửa qua mỗi đêm - Dẫu nó không biết tại sao, do đâu, là gì?! Đêm nay, nó thấy lửa bùng lớn hơn bao giờ hết. Vừa rồi, khi gắt em chính là lúc nó đang ngộp thở bởi hình như lửa đang sát cạnh, nóng ran tự trong thân... Sắp đến chỗ rồi mầy, đừng nói gì nữa. Thằng anh chuyển lệnh cho em. Âm tiếng lạnh lẽo. Nó nuốt vội chút nước bọt bởi miệng nhạt đắng, khô khan. Chiếc ghe nhỏ len dần vào giữa những thân thuyền cao, đen, nằm lặng lẽ như những con vật khổng lồ no mồi say ngủ. Bây giờ chỉ còn đứa lớn chèo sau lái, thằng em đã sẵn chiếc thùng ni-lông trong tay, nó chồm ra khỏi thành ghe, nghiêng hẳn nửa người nằm ngang trên mặt nước, vục nước tù giữa hai thân tàu chở dầu nằm ụ. Đây... đây, Hai... Thằng bé em múc vội một bình ni-lông nước, vục tay ào, đưa lên mũi ngửi ngửi. Đúng rồi Hai, em thấy như là dầu nguyên xi. Đứa anh vội vàng. Mầy nhẩy qua múc đi, đợi gì nữa, khi nào mệt, qua giữ lái để tao thay. Tiếng phì phọt múc dầu đều đặn chen lẫn hơi thở dồn dập của đứa bé đang trong cơn căng thẳng. Thỉnh thoảng có lời xuýt xoa tiếc rẻ. Nhiều quá, dầu nhiều quá, biết vậy mình mượn cái ghe bác Bẩy, múc được nhiều hơn, chắc họ mới xả buổi sáng. Khi đứa anh bắt đầu thay em vì chiếc ghe chỉ còn di động đong đưa do thân đã bị mắc vào cạnh một xà-lan rộng nên đứa em chỉ cần nắm giữ những vỏ bánh xe dùng làm phao cấp cứu gắn hai bên sườn. Thằng em rãnh rỗi, khơi chuyện, nói lời vui...
- Vừa rồi Hai hỏi em có muốn ăn gì phải không?
- Ừa, cho mầy nói đi.
- Không, em không cần, nhưng nếu mình bán được dầu, có tiền, mình mua cho thằng út hộp sữa, từ ngày má chết, nó có được ai cho bú đâu, Hai chịu không? Được, để tao coi.
Đứa anh trả lời mơ hồ phần vì bận việc, nhưng quả thật, trong lòng đang có điều mơ hồ thấp thoảng âu lo. Khi cúi mình trên dòng nước đen hăng hắc hơi dầu, nó ngửi thấy mùi khói và lửa ngọn bùng bùng rực đỏ đâu đây. Bộ đội Trịnh rút điếu thuốc cong queo từ trong túi áo. Ba số nhá, thuốc thẳng ba số đấy! Anh ta đi đến dưới trụ đèn, nhìn rõ hơn những giòng chữ nhỏ màu xanh in trên giấy cuốn điếu thuốc. Anh không đọc hiểu, nhưng thật sự cũng chẳng cần thiết. Ba số, ba số, thuốc thẳng có “cán” giấy vàng. Trịnh lẫm bẩm khi nhìn vào hàng chữ số “555” và khúc đầu lọc bọc giấy kim loại màu vàng. Chiến thật, tụi đế quốc phí thật, giấy kim loại đắt đến thế mà chúng dùng chỉ để làm thuốc cán! Anh ta hân hoan khi so sánh với những điếu thuốc bọc giấy bạc của Hà Nội, những thứ thuốc giành cho cán bộ cấp cao. Thăng Long, Điện Biên. Chẳng làm sao bì được với “thằng ba số” nầy! Anh nhẹ kéo giây tim chiếc hộp quẹt nhôm màu trắng. Phải làm thế nào để không phải bật quẹt lần thứ hai, mùi xăng bốc lên sẽ làm hư thuốc. Anh cẩn thận, chuẩn bị tỉ mỉ trước khi trịnh trọng mồi điếu thuốc. Bộ đội Trịnh tì người trên lan can tàu, nhìn xuống giòng sông, rít dài hơi tận hưởng khoái lạc khi thân thể mở ra, đầy ắp khối lượng khói thuốc thơm lừng. Anh đưa mắt nhìn nơi xa, bên kia sông, dãy nhà lốm đốm đèn đỏ trước khi xoay vòng phía sau. Thành phố rực sáng như tập trung hết nguồn điện của tất cả đế quốc, Mỹ-Nguỵ có được. Gớm, sao chúng phí điện đến thế! Anh hằng có cảm giác kinh sợ thán phục chen lẫn giận dữ mỗi khi nhìn vào sinh hoạt của người, sự việc hằng ngày xảy ra nơi miền Nam, ở Sàigòn. Giải phóng rồi chúng còn thế, không biết trước kia “phồn vinh giả tạo” nó ra làm sao, chính chúng nó phí phạm thế mới làm “ngoài ta” khốn khổ, chứ không ai vào đây tất!” Trịnh hằng kết luận như thế cùng đồng ngũ và chính bản thân. Bỗng bộ đội Trịnh la lên tiếng sửng sốt lẫn phẫn nộ khi nhìn xuống giòng sông, khoảng giữa những thân tàu dầu, dạng hai đứa bé đang trên con thuyền chòng chành, xô đẩy bởi dòng chảy dồi sóng chuyển dịch do vài con tàu chung quanh rời bến. Và tai hoạ thực xẩy ra. Điếu thuốc rời khỏi môi rơi xuống. Chấm tàn đỏ bay ngoằng ngoèo trước khi mất hút trên vùng nước đen. Bộ đội Trịnh gầm rú..
Ông giết chúng mầy! Anh ta giật khẩu AK trên vai xuống với động tác quyết liệt, mạnh mẽ. Bộ đội Trịnh nhắm vào lỗ chiếu môn, đỉnh đầu ruồi, đầu nòng súng đến thân thể người. Chiếc nón cối rơi tung xuống đất. Mặc! Anh nghiến chặt răng. Bóp cò. Tràng đạn nổ ròn ba nhịp.
Chết rồi Hai ơi... họ thấy mình rồi... chèo đi, chèo lẹ đi! Không ai bảo ai, hai đứa bé đồng cuống quýt, thằng em nhẩy vội về thuyền. Những cánh tay gầy, yếu vung tròn, chuyển động dồn dập, tới tấp... mau lên, mau Hai ơi, mau lên... Những viên đạn vạch đường đỏ đuổi theo. Bộ đội Trịnh bóp cò lần thứ hai. Bộ đội Trịnh bóp cò lần thứ ba. Những đầu đạn rơi xuống nước, xé tung gỗ sườn ghe, và ghim im đâu đó nơi thịt da đứa nhỏ. Thằng anh gập nửa thân người ngang be thuyền, mặt úp xuống nước. Trên vũng đen im xao động nó thấy lửa. Lửa phần phật, chập chờn như buổi sáng cuối cùng với cha nó. Hai ơi... anh ơi... Hai đừng chết bỏ em... tội em! Đứa bé em muốn kêu lên như thế, nhưng bởi nó đã thật sự kiệt sức khi chiếc ghe thoát được ra giữa giòng sông. Chung quanh. Sông Sài Gòn, đoạn chảy qua xưởng Ba Son im lặng biền biệt trôi.

A RECALL PETITION TO REMOVE COUNCILWOMAN KIMBERLY HO FROM HER OFFICE THROUGH A REFERENDUM BEFORE HER TERM IN OFFICE HAS ENDED.


Whereas, Kimberly Ho, a councilwoman, a member of Westminster City Council, failed to fulfill her duty as a representative of citizens of Westminster City and caused a turmoil among the Vietnamese-American community. People fight with each other on Internet, Facebook and Emails. Slanders are sent everywhere and make citizens losing their faith in the government.
Whereas, Kimberly Ho betrayed herself when she contradicted with her 9th of December, 2020 resolution in which she and all other four council persons allowed to build the Statue of The Victory of Co Thanh Quang Tri in the area where the Monument of Vietnamese and American heroes was built.
Whereas, Kimberly Ho abused her authority when she called for an emergency meeting of all council persons just because of her personal feelings about the building the statue. In fact, there was no need for such emergency meeting. The issue of building the statue was just a matter of Vietnamese-American community, not city’s issue.
Whereas, Kimberly Ho showed her lack of experience in working for government, she mixed her personal likes and dislikes with the safety of the city.
Resolved by the citizens of Westminster City, California.That the citizens of Westminster City, California will call for a removal of Kimberly Ho from her office. The recall election will be organized as sooner as better.  
Dated this 20th of July, 2021. 

Tien Tat Chu. 

Tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị 1972

 


Tuesday, July 20, 2021

Bức thư của bà Tôn Nữ Hoàng Hoa gởi cho bà Kimberly Hồ

Thưa Bà Kimberly Hồ,
 
Tôi tên là Tôn Nữ Hoàng Hoa ở Florida
Cách đây hai năm tôi biết đến tên bà do quí ông Nguyễn Mạnh Chí, Tony Bùi, Khuất Nguyên và bà Trần Thị Đào chuyễn tới . Những vị này tôi chưa hề biết mặt hay chưa nói với nhau một lời nào
Họ gởi tên bà đến để yêu cầu chúng tôi hổ trợ bà đang bị nhóm Hoàng Kiếu tung tiền đánh phá đòi truất phế.
Tôi ở xa, ít khi tham dự vào những chuyện địa phương nhưng thấy ông HK ăn nói thiếu lễ độ đối với Quân Nhân Quân Lực VNCH. Chưởi bới người tỵ nạn một cách công khai nhất là Nghị Viên Tài Đổ dám tuyên bố Westminster rồi sẽ thành phố Hồ Chí Minh. Trong khi đó ông HK tuyên bố sẽ đem văn công của CSVN đến đây ca hát thử xem cái cộng đồng tỵ nạn Westminster sẽ làm gì ông.
Tất cả những người tỵ nạn có chút lòng thường hay bị tủi hờn ẩn ức khi nghe ai chưởi đến đồng bào tỵ nạn của mình và Tập Thể Người Việt Tỵ nạn CS tại hải ngoại .
Họ luân chuyển viết bài phê phán ông HK để đem lại công lý cho bà và một số đồng nghiệp đang bị ông HK và ông Tài Đổ hạ bệ
Những nhiệt tình chiến đấu chống ông HK đó vẫn còn mang nhiều dấu ấn trong tâm tư tôi khi chúng ta có tình đồng đội, có nhân, lễ, nghiã, trí, tín và có tình đoàn kết. Chúng tôi đã thở phào khi qúi vị không bị recall
Hôm nay tôi lại thấy tên bà trong danh sách ba người chống lại việc Xây Dựng Tượng Đài Quảng Trị nhưng tên bà không còn kề vai sát cánh với những đồng đội của bà như trước mà bà đã rẽ lối đi vào vùng đất địch để cùng sống chết bên nhau với Tài Đỗ và Carlos Manzo
Tại sao bà lại có hành động đó ? Vì quyền lợi hay vì tư tưởng chao đảo? Những người ở xa như chúng tôi có lẽ không hiểu tình huống đó, Nhưng chắc chắn những người dân Westminster sẽ thấy bà không có tình đồng đội. Nếu bà không bằng lòng những việc làm của qúi ông trong Hội Đồng Thành phố Westminster thì theo tôi bà nên giữ thái độ im lặng còn hơn chạy theo phe Tài Đỗ. Chính thái độ đó người ta sẽ kính trọng bà hơn là hành động phản phúc. Mà chính hành động này những người Việt có chữ TÍN họ không bao giờ dám làm
Trên dưới 30 năm tôi sinh hoạt trong cộng đồng toàn quốc. Ngay từ khi Tượng Đài ở Californina bắt đầu dựng lên cũng bị đánh phá không ngừng. Rồi đến Tượng Đài ở Houston dựng lên do qúi vị Quân Nhân VNCH khởi xướng thì cũng bị nhiều bất đồng ý kiến bởi Tổ Chức Cộng Đồng vì những người này cho tổ chức  cộng đồng là cái dù bao trùm hết tất cả hội đoàn ngay cả Hội Đoàn Quân Đội.
Rồi đến Tượng Đài ở Orlando Florida thì cũng bị bất đồng ý kiến cho rằng Tượng Đài phải do Cộng Đồng Cai quản . Thôi thì ý kiến loạn xà ngầu
Tôi chỉ không hiểu tại sao khi người dân có lòng xây dựng tượng đài thì lại có nhiều bất đồng ý kiến như vậy. Bà Kimberly Hồ có nghĩ đó là tại sao không? Bởi vì người dân không ở phe nào họ muốn nhiều tượng đài chiến sĩ quốc Gia của VNCH xây lên ở hải ngoại càng nhiều càng tốt.
Cộng sản đi đến đâu  là hoang tàn đổ nát chỗ đó là một chủ nghĩa hủy diệt . Người Việt Quốc Gia là một lý tưởng xây dựng phải xây dựng lại trên hoang tàn đổ nát mà VC gây ra
Tôi không binh Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài và tôi cũng đã có bài gởi ra yêu cầu Uỷ Ban Thay đổi nhân sự để không tạo sự ngộ nhận cho Ủy Ban.
Câu hỏi của tôi là tại sao phe của ông HK ngày qua lại ra tay chống phá Tượng Đài Quảng Trị. Đó cũng là đôi điều bà cần suy nghĩ khi những vị trong Ủy Ban phải tường trình hằng ngày những hành vi đánh phá bên phe phái HK
Tôi không biết Lão Tử sinh năm nào nhưng tư tưởng của Lão Tử là những hệ thống suy luận huyền diệu vừa siêu hình vừa thực nghiệm. Thiên hạ chạy theo cái học Thị Phi, thiện ác cái học chi ly. Phàm muốn vật chi thái quá chỉ gặp những kết quả ngược lại lòng mình. Luật quân bình của đạo rõ ràng dạy con người chớ có dư thừa thái quá. Tôi muốn mượn cái nhân sinh quan này để tặng bà. Bày ra xấu tốt , hay dở, khôn dại được mất đó là mầm mống của loạn. Đó là nhị nguyên của bọn trí thức (ngủ) bày ra để đưa dân vào ngõ hẹp .
Khi bà xưng tên và gia  nhập với ông Tài Đỗ cùng ông Carlos Manzo mà nói theo lẽ sinh tử của Lão Tử là bà đã biến đến tận cùng. Biến thành hình là được gọi là sinh mà biến đến tận cùng thì được gọi là "xong"
Vì tương lai của bà. Tôi hy vọng bà sẽ Ủng Hộ Uỷ ban Xây Dựng Tượng Đài Cổ Thành Quảng trị. Vì người dân họ rất qúi những cá nhân biết sai mà sửa và nhất là biết trọng NHÂN, LỄ, NHĨA, TRÍ, TÍN
Kính chào bà

Tôn Nữ Hoàng Hoa
Florida

Từ Thiếu Sinh Quân Nên Thành Người Lính Chiến, Trương Quang Ân - Chương 2

Date: Wed, 11 Dec 2002 01:49:24 – 0800 ( PST)
From: "tu y duc bo"/NSVN..@yahoo.com
Subject: Thu VN
To: nsvietnam@yahoo.com
NSVN và đích thân PNNam thân mến
Khi tôi gọi PNNam là đích thân thì chă‘c hẳn các bạn biết tôi là ai rồi. Đã 27 năm qua, lưng chúng ta đã còng đi, tóc chúng ta đ~a bạc, nhu +ng những gì chúng ta đã mất sao vẫn chưa tìm lại được, nơi đây, quê hương như anh Nam nói, những người phế binh vẫn bao lâu nay rách nát đợi chờ, ngày ngày vẫn khổ nhọc mưu sinh, những đứa con của những người lính VNCH ở lại và bị 'tru di tam tộc'. Cha mẹ chúng nó vẫn sống lặng căm trong tủi hờn của những người bị mất nước. Đất nước nghèo đói và tụt hậu không tượng dược, những đe dọa vẫn lơ lững trước mă‘t bọn tôi, những người đã từng đánh trận QTrị kiêu hùng va tan thưon+g, Đồng Ông DO,căn cứ Met Moi Ra[barbara],đồn điền cao su An lộc. Những người lính mũ đỏ ngày xưa gan lì và dũng cảm mà bây giờ ngồi viết cho các bạn mà tâm trạng vẫn lo, lo thì vẫn lo nhưng viết cho các bạn được nối kết với các bạn dù chưa biết mặt nhau vẫn thấy lòng mình vui sướng và thỏa lòng vì mình biết bọn mình chưa... chết, như những ngày xưa mình còn như nhau vậy.
Anh Nam thân mến. Ngày tôi gặp anh, nếu tôi nhớ không lầm thì lúc đó anh chỉ có 3 hot thôi, lúc đó ở tiền trạm cây số 17 thì phải năm 1972, tôi rất thích anh, yêu những bài viết của anh, gan nhu không có quyển sách nào của anh mà tôi không có, hiện nay tôi còn Tua lung vao noi chet. Dau binh luạ Mua he do luạ Tôi vẫn hằng đọc đi đoc lại hoài [nhung den ngay hom nay toi khong dam coi tiep lai nua vi sach da vang va muc nhieu so xem tiep se pha hong sach mau chong thoi]. Phải nói hỏa tiển Tow ngày xưa tụi này bă‘n xe tăng cs nó không cháy nòng bằng giọng văn của xếp Nam tôi. Bởi thế, sau cái ngày tai ương 30/4/75 khi biết anh bị đưa ra Bă‘c, thú thật tôi lo lă‘ng quá, không biết anh có còn về nữa không? Mãi một thời gian sau khá lâu mới biết anh đã về và 'di tan' qua Mỹ tôi rất mừng, sợ mất anh lấy đâu ra ai để chơi bọn này hay như anh đâu... Thôi vài hàng thăm các bạn. Có nhiều điều muốn nói, muốn tâm sự với các bạn lă‘m nhưng lai sợ, do 27 năm trong chế độ cs đã làm bọn này còn ở lại như thế đó các bạn ơi! Nhưng trái tim chúng tôi vẫn còn đầy nhiệt huyết...
Thân thương.
Cựu SQ TD3DU
Ghi chú:
Bức thư cảm động của một người lính Dù miền Nam, gửi ra từ trong nước qua Nguyệt San Việt Nam, nhờ chuyển đến Phan Nhận Nam, nhân khi anh đọc thông báo của NSVN về tập truyện "Những Trận Đánh Không Tên Trong Quân Sử" trên hệ thống internet. Thư được anh em forward/chuyển tiếp đến PNN sau đó.
Chúng tôi chạy thư anh như một phụ chú sau bài PNN trong tập truyện, để anh em hiểu là những người lính miền Nam bất hạnh còn lại trong nước của chúng ta vẫn nhìn và mong đợi chúng ta, những người lính lưu vong còn viết cho quê hương, xuyên qua đại dương.
Thư viết từ VN đa phần không bỏ dấu. Nhóm chủ trương NSVN đã thực hiện việc bỏ dấu để mạch văn của thư được đọc và hiểu dễ dàng/ LKAH
--------------------------------
1 Trung Tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Liên Đoàn NDø (1957-1960)
Đại Uùy Ngô Xuân Soạn, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 ND (1957-1960)
2 Thời điểm 1963-1965, phiên hiệu của đơn vị nhảy dù là "Lữ Đoàn Nhẩy Dù"
3 Lính cần vụ: Nói trại từ chữ "lạc đà"- do mang qua nhiều đồ trên lưng.
4 Nhẩy dù điều khiển: Kỹ thuật nhẩy dù cao cấp, người nhẩy tự quyết định thời điểm mở dù.

TỔNG LƯỢC VỀ TRẬN ĐÁNH TÁI CHIẾM CỔ THÀNH QUẢNG TRỊ Chu Tất Tiến.

Tháng 12, năm 2020, một nhóm người trẻ thuộc thế hệ thứ 2 đã xin được sự đồng thuận 5/5 của thành phố Westminster cho phép xây dựng Tượng Đà...